Xuyên không thập niên 70
Chương 25: Hương Tết năm Mậu Ngọ
Gió bấc rít từng hồi liên thanh qua rặng xoan khẳng khiu trước ngõ, kéo theo những màn mưa phùn mỏng tang nhưng sắc ngọt như mũi kim châm. Cả làng An Hòa chìm trong cái rét thấu xương của đợt không khí lạnh kỷ lục cuối năm. Trên mặt ao, sương giăng đặc quánh như sữa bò, bèo tây co rúm lại dưới tầng nước lạnh ngắt buốt giá. Thế nhưng, bên trong gian bếp rạ của gia đình thương binh Trần Bình, ngọn lửa củi nhãn đỏ rực đang reo tí tách, xua tan đi cái lạnh căm căm của buổi sớm hăm chín Tết.
An ngồi trên chiếc ghế đẩu bằng gỗ mít xù xì, đôi tay thoăn thoắt xếp từng tàu lá dong xanh ngắt đã được rửa sạch và lau khô bằng tấm khăn vải xô. Năm nay là cái Tết đầu tiên cô làm dâu nhà họ Trần, cũng là cái Tết đầu tiên của đời người ở chốn nông thôn bao cấp xa lạ này. Nhìn gian bếp ấm áp thoang thoảng mùi khói rơm quyện với mùi vỏ quýt phơi khô, lòng An dâng lên một cảm xúc bình yên đến lạ kỳ.
Ở góc bếp, bà cụ Mẫn đang cẩn thận đãi từng vốc hạt vàng óng trong chậu đồng. Đó không phải là đỗ xanh truyền thống vốn đắt đỏ và khan hiếm đến mức chỉ nhà cán bộ mới dám mơ tới, mà là những hạt đỗ tương thu hoạch từ bãi Soi vừa qua. Hạt nào hạt nấy mẩy căng, tròn lẳn, bóng bẩy như những hạt ngọc của phù sa sông Đáy.
“An này, u đãi vỏ sạch rồi đấy,” bà cụ Mẫn móm mém cười, đưa mắt nhìn con dâu đầy yêu thương. “Hồi hôm nghe con bảo lấy đỗ tương bãi Soi độn với nếp gói bánh chưng thay đỗ xanh, u cứ lo hạt đỗ cứng thì luộc bao giờ mới nhừ. Ai dè con đem ngâm nước tro bếp rồi đồ chín tơi lên thế này, hạt đỗ bùi ngậy, thơm lừng chẳng kém gì đỗ lòng xanh ngoài chợ huyện.”
An ngẩng lên, mỉm cười đón lấy thau đỗ tương đã được đồ chín và giã dập vừa phải:
“U yên tâm, đỗ tương này hàm lượng đạm cao, vỏ mỏng, khi hấp chín bở tơi ra thế này bọc quanh miếng thịt sẽ ngấm trọn mỡ. Mình lại rắc thêm chút hạt tiêu sọ và nắm hành hoa xào mỡ lợn vào, bánh chín vừa béo vừa bùi, màu đỗ lại ngả vàng sậm rất bắt mắt.”
Số gạo nếp cái hoa vàng trong thúng là phần thưởng hai thúng thóc mà Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đích thân ký lệnh trích quỹ tặng cho vợ chồng Bình sau đợt lập công ở bãi Soi. Từng hạt nếp dài, đục sữa, thơm nồng mùi đồng bãi. Để bánh giữ được màu xanh mướt mượt mà không cần dùng phẩm màu hay hóa chất, An đã khéo léo dùng lá riềng giã nát, vắt lấy nước cốt xanh thẫm rồi đem trộn đều vào từng bát gạo nếp ráo nước. Từng hạt nếp ngậm lấy tinh chất lá thảo mộc, bừng lên sắc ngọc lục bảo tươi tắn.
Miếng thịt lợn mậu dịch mua theo tiêu chuẩn thương binh của Bình được An thái bản dày dặn bằng ba ngón tay, ướp đẫm tiêu bắc, hành củ và chút nước mắm cốt nguyên chất chắt từ đáy chum của u Mẫn. Chẳng cần khuôn gỗ cầu kỳ, đôi bàn tay thon thả của An thoăn thoắt gập từng nếp lá dong, đổ lớp nếp xanh rờn làm đáy, rải một muôi đỗ tương vàng ruộm thơm phức, đặt miếng thịt nửa nạc nửa mỡ vào chính giữa, rồi lại phủ thêm một tầng đỗ, một tầng nếp.
Bằng những động tác chuẩn xác và khéo léo của người từng làm vô số thí nghiệm sinh học đòi hỏi độ tỉ mỉ cao, An nẹp bốn góc bánh vuông vức, lấy sợi lạt giang ngâm mềm buộc chéo hình chữ thập. Chiếc bánh chưng hiện ra vuông thành sắc cạnh, chắc nịch như đóng khuôn, màu xanh thẫm của lá dong ôm trọn lấy lớp nhân đầy đặn bên trong.
Bình từ ngoài sân bước vào, trên vai vác một cây củi gộc lớn. Thấy vợ ngồi cặm cụi gói từng chiếc bánh đều tăm tắp, anh khẽ mỉm cười, đặt củi xuống góc hiên rồi ngồi xổm bên cạnh, đưa tay đỡ lấy cuộn lạt giang cho cô:
“Nhìn em gói bánh khéo thế này, mấy thím trong xóm mà trông thấy khéo lại tấm tắc khen cả năm. Hôm qua đi qua sân kho, thím Ba cứ bảo năm nay cả làng trông vào bãi Soi mới có hạt nếp, củ đỗ mà đón Tết. Ai cũng tấm tắc khen vợ Đội trưởng vừa giỏi việc đồng áng lại đảm việc nhà.”
An liếc nhìn chồng, ánh mắt lấp lánh ý cười:
“Anh chỉ khéo khen. Năm nay nhà mình có nếp bãi Soi, lại có thịt tiêu chuẩn của anh, gói được mười chiếc bánh thế này là tươm tất lắm rồi. Chốc nữa luộc xong, em để dành hai chiếc bánh đẹp nhất biếu u, hai chiếc lát nữa mình mang về thắp hương bên thầy em, còn lại biếu gia đình bác Cả Sắn với chị Đượm ăn Tết. Năm qua mọi người cùng kề vai sát cánh với Đội 3, có củ khoai nhánh rau cũng chia nhau, chút thảo thơm này đáng là bao.”
Bình nghe vợ nói, lòng ấm sực lên. Người lính can trường từng đi qua khói lửa trận mạc nhìn người phụ nữ mảnh mai trước mặt, càng ngắm càng thấy trân quý cái đức tính sâu sắc, thơm thảo và biết trước biết sau của cô.
*
Đầu giờ chiều hăm chín Tết, mưa phùn bắt đầu ngớt hạt, nhưng cái rét hanh hao vẫn làm da mặt người ta tê buốt. Bình dắt chiếc xe đạp Phượng Hoàng cánh chả màu xanh sẫm – tài sản quý giá nhất mà anh tích cóp tiền phụ cấp thương tật và giấy khen chiến sĩ thi đua mới mua được – ra đầu sân. Chiếc chuông đồng kêu “kính coong” vang giòn trong không gian tĩnh mịch.
“Mình ơi, lên xe thôi, kẻo trời tối sương xuống buốt lắm.”
An bước ra, mặc chiếc áo bông chần màu hạt dẻ u Mẫn mới may lại từ tấm chăn chiên cũ, cổ quấn chiếc khăn len đan màu mận chín. Trên tay cô là chiếc làn mây nhỏ đựng hai chiếc bánh chưng xanh ngắt vừa luộc chín tới, một gói chè búp Ba Trại bọc giấy báo cẩn thận và phong pháo chuột nhỏ để thắp hương tổ tiên.
An ngồi nghiêng trên gác-ba-ga phía sau, một tay giữ chặt chiếc làn mây, tay kia kín đáo bám nhẹ vào vạt áo trấn thủ của Bình. Tấm lưng anh rộng, vững chãi như một bức tường thành chắn trọn từng cơn gió bấc buốt rát thốc từ phía triền đê sông Đáy.
Chiếc xe đạp lướt êm trên con đường làng lát gạch nghiêng rêu phong. Hai bên đường, những rặng râm bụt khẳng khiu run rẩy trong gió lạnh, nhưng trước mỗi hiên nhà tranh vách đất, không khí ngày Tết đã bắt đầu hiện hữu. Khói bếp bảng lảng bay qua mái rạ, mùi lá dong luộc thơm nức quyện với tiếng cười nói rộn rã của lũ trẻ con xúng xính trong manh áo mới vá vai.
Thấy Bình đèo An đi qua ngõ xóm Đông, bác Cả Sắn đang ngồi rửa củ cải bên giếng khơi ngẩng đầu lên, vẫy vẫy đôi tay đỏ ửng vì nước lạnh:
“Chú Bình, cô An về chúc Tết ông bà giáo đấy à! Rét mướt thế này nhớ đi cẩn thận nhé! Cả xóm nhờ nồi nấm rơm với mớ đỗ tương của cô An mà Tết này nhà nào cũng có bát canh thơm cúng cụ!”
“Vâng ạ! Cháu chào bác Cả, chúc bác và gia đình ăn Tết ấm áp ạ!” An nghiêng đầu mỉm cười chào lại, tiếng nói trong trẻo như chuông ngân giữa chiều đông.
Đi qua quán nước đầu làng, mấy chị em Đội 3 đang xúm xít chia nhau những bó rau thơm tăng gia cũng tíu tít vẫy tay. Nhìn ánh mắt kính trọng, ấm áp của dân làng dành cho vợ chồng mình, An cảm thấy những giọt mồ hôi, những đêm thức trắng cứu kho giống hay dầm mình ủ men phân rơm suốt mấy tháng qua đều được đền đáp xứng đáng bằng tình làng nghĩa xóm thiêng liêng này.
Căn nhà ba gian lợp ngói vảy cá của cụ giáo Khiêm nằm tĩnh mịch dưới bóng cây ngọc lan cổ thụ cuối làng. Mảnh sân gạch nhỏ được quét dọn sạch sẽ tinh tươm, đôi câu đối đỏ viết bằng mực tàu thơm nồng đã được cụ dán ngay ngắn bên hai bờ dải:
“Thiên tăng tuế nguyệt nhân tăng thọ Xuân mãn càn khôn phúc mãn đường.”
Nghe tiếng chuông xe đạp lách cách, cụ Khiêm trong chiếc áo the thâm đã sờn cổ, chống chiếc gậy trúc chậm rãi bước ra hiên. Nhìn thấy con gái và con rể bước vào ngõ, đôi mắt mờ đục vì năm tháng của người thầy giáo già bỗng sáng lên lấp lánh.
“Thầy! Chúng con về chúc Tết thầy u đây ạ!” An bước nhanh tới, đỡ lấy cánh tay gầy gò của cha.
Cụ Khiêm nắm lấy bàn tay ấm áp của An, ngắm nhìn con gái từ đầu đến chân. Đứa con gái thứ hai của cụ, ngày nào xuất ngũ trở về còn gầy gò, xanh xao, đôi mắt đượm vẻ u uất hoang mang trước hiện thực đói nghèo nghiệt ngã, giờ đây đã trở thành một người phụ nữ đằm thắm, đôi má ửng hồng khỏe khoắn, ánh mắt toát lên sự thông tuệ, đĩnh đạc và rắn rỏi lạ thường.
“Vào nhà đi các con, ngoài trời rét căm căm thế này...” Cụ Khiêm xúc động nghẹn ngào, giọng run run.
Bên bàn nước bằng gỗ lim cũ kỹ, ấm trà mạn vừa pha bốc khói nghi ngút, tỏa hương thơm ngát. Bình kính cẩn đặt chiếc bánh chưng và lễ vật lên bàn thờ tổ tiên họ Nguyễn, rồi quay lại chắp tay chúc Tết bố vợ:
“Thưa thầy, năm hết Tết đến, con cùng nhà con xin kính chúc thầy dồi dào sức khỏe, trường thọ an khang. Năm qua có nhiều biến cố, nhờ ơn trên và sự chỉ bảo của thầy, chúng con đã vượt qua được những bước đầu khó khăn.”
Cụ Khiêm gật đầu, đưa tay vuốt chòm râu bạc, khóe mắt rưng rưng giọt lệ già nua:
“Bình này, thầy mừng cho hai đứa lắm. Mấy tháng qua, cả xã An Hòa này từ trên hợp tác xuống dưới xóm dưới, ai gặp thầy cũng tấm tắc khen ngợi vợ chồng con. Người ta bảo con bé An nhà này có tâm có đức, đem tri thức ra cứu đói cho làng, còn con thì chí công vô tư, một lòng bảo bọc bà con xóm giềng. Thầy sống đến ngần này tuổi, chẳng mong gì mâm cao cỗ đầy, chỉ mong thấy các con thuận hòa, được dân làng tin yêu kính trọng như thế, là thầy nhắm mắt cũng yên lòng rồi.”
Cụ ngừng lại, với tay lấy chiếc hộp gỗ nhỏ trên nóc tủ chè, cẩn thận mở ra lấy ra một tờ giấy gấp tư đã ngả màu vàng ố vì thời gian. Đó là bức thư viết tay của đồng đội anh Nam gửi về từ chiến trường Tây Nguyên nhiều năm trước, cùng những nét chữ run rẩy của chính cụ ghi chép lại những chuyến đi tìm tin tức con trai.
Cụ trao bức thư vào tay Bình, giọng trầm xuống đầy xúc động:
“Hôm trước nghe con báo tin bên Ban liên lạc cựu chiến binh đã xác định được tọa độ bia mộ tạm của thằng Nam ở chân Đồi Charlie, cả đêm thầy không ngủ được. Thầy già rồi, chân yếu gối mỏi, chẳng thể trèo đèo lội suối vào tận Kon Tum mà đón nó về. Việc này... thầy chỉ biết cậy nhờ vào con rể. Con từng là người lính trận, con hiểu được nỗi niềm của những người ngã xuống nơi đất khách quê người.”
Bình hai tay đón lấy bức thư thiêng liêng, đôi mắt cương trực nhìn thẳng vào mắt cụ Khiêm, giọng nói đanh chắc như đinh đóng cột:
“Thầy cứ yên lòng tịnh dưỡng. Con đã hứa với An và trước vong linh anh Nam, sau vụ chiêm xuân này, khi công việc đồng áng của Đội 3 tạm ổn định, con sẽ lập tức lên đường vào Tây Nguyên. Dù có phải lội suối băng rừng xới từng tấc đất, con nhất định sẽ đưa anh Nam trở về yên nghỉ nơi đất mẹ quê hương.”
An ngồi bên cạnh, nghe từng lời tâm huyết của chồng, sống mũi cay xè. Cô khẽ nắm lấy bàn tay chai sần của Bình dưới gầm bàn. Sự thấu hiểu và gắn kết giữa hai tâm hồn không cần đến những lời thề non hẹn biển hoa mỹ, mà khắc sâu qua từng hành động chở che, từng trách nhiệm thiêng liêng mà người đàn ông này tự nguyện gánh vác cùng cô.
*
Đêm ba mươi Tết.
Màn đêm buông xuống dày đặc như mực trút. Cả xã An Hòa chìm vào giấc ngủ muộn màng sau những ngày tháng lao động vất vả nhọc nhằn. Ngoài trời, từng cơn gió bấc hung hãn quất phần phật vào rặng tre, nhiệt độ ngoài trời đã tụt sâu xuống dưới sáu độ C. Hơi lạnh ngấm qua từng kẽ liếp, buốt buốt đến tê dại ngón chân.
Nhưng trong gian bếp rạ của nhà Bình, không khí lại ấm áp như một cõi riêng biệt. Nồi bánh chưng lớn kê trên ba hòn đá tảng vững chãi đang sôi sùng sục, bọt nước trào ra nắp vung xì xèo trên than hồng. Khói nhãn khô bốc lên mang theo hương thơm ngai ngái quen thuộc của củi rừng, quyện với mùi lá dong chín rền, mùi nếp cái hoa vàng thơm lừng ngào ngạt lan tỏa khắp gian nhà.
Bà cụ Mẫn sau một ngày bận rộn cúng tất niên và dọn dẹp bàn thờ đã đi nghỉ sớm từ canh hai. Gian bếp chỉ còn lại hai vợ chồng An và Bình ngồi bên bếp lửa.
Ánh lửa bập bùng soi rọi khuôn mặt chữ điền cương nghị, sạm màu sương gió của Bình và làn da mịn màng, đôi mắt trong veo lấp lánh phản chiếu ngọn lửa của An. Bình cầm thanh cời củi, khẽ gạt những hòn than đỏ rực sang một bên rồi vùi vào đó hai củ khoai lang mật bãi Soi to bằng bắp tay.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…