Xuyên không thập niên 70
Chương 27: Rào đê chặn dịch
Gió bấc rít từng cơn qua những ngọn tre khẳng khiu ngoài bãi, thổi dạt đám mưa phùn lạnh buốt vào tận hiên lán. Trong gian chuồng trâu của Đội 3, sự ấm áp vừa nhen nhóm bỗng chốc như bị một gáo nước lạnh tạt thẳng vào, đông cứng lại.
Đồng chí cán bộ thú y huyện vẫn quỳ sụp dưới nền trấu, hơi thở phì phò ra từng luồng khói trắng, cả người ướt sũng bùn đất nhão nhoét. Tin dữ mà anh ta mang tới từ vùng hạ lưu sông Đáy tựa như một tiếng sét giữa trời đông giá rét.
“Đồng chí nói rõ lại xem nào!” Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát lảo đảo bước tới, hai bàn tay run rẩy túm chặt lấy bả vai áo mưa của người cán bộ thú y, giọng lạc hẳn đi: “Bên Thụy Hương với Đồng Tân... tình hình thực sự đến mức nào rồi?”
Người cán bộ thú y nuốt khan một ngụm nước bọt, giọng nghẹn lại:
“Thảm lắm bác Khoát ơi! Mới chớm từ ba hôm trước, ban đầu chỉ một vài con trâu sốt cao, bỏ ăn, nước dãi chảy ròng ròng như kéo bọt xà phòng. Thế rồi chỉ qua hai đêm rét đậm, mầm độc lây lan như dầu loang. Sáng nay tôi đạp xe qua thôn Thượng bên ấy, cả một dãy chuồng trâu tập thể tiếng rống thảm thiết vang tận đầu làng. Miệng chúng nó loét đỏ lòm, niêm mạc lột từng mảng to bằng bàn tay, lưỡi sưng vù không nuốt nổi một cọng rơm. Đau đớn nhất là móng chân... mủ vàng chảy ròng ròng, kẽ móng nứt toác, có con long cả móng ra, chỉ còn trơ cùi thịt dính đầy bùn đất, đau quá không đứng nổi phải quỵ xuống rồi nằm chết dần chết mòn trong phân rác!”
Mấy chị em Đội 3 đứng quanh nghe tả đến đấy thì rùng mình, mặt ai nấy tái mét. Chị Đượm bất giác đưa tay bụm miệng, mắt mở to kinh hãi.
Ở vùng quê châu thổ sông Hồng này, con trâu là đầu cơ nghiệp. Con trâu kéo cày, đạp lúa, bừa ải, gánh vác cả vận mệnh của mùa màng. Mất một con trâu đã là đại tang của một đội sản xuất, huống chi cả đàn ngã bệnh ngay trước thềm vụ cày cấy chiêm xuân. Nếu sức kéo bị tê liệt hoàn toàn, đất đai bỏ hoang, thì chỉ vài tháng nữa thôi, bóng ma của nạn đói giáp hạt sẽ bóp nghẹt từng mái nhà trong xã An Hòa.
“Thuốc... thế trạm thú y huyện có phân bổ thuốc kháng sinh về không?” Ông Khoát lắp bắp, trán vã mồ hôi hột dù gió rét đang rít từng hồi ngoài vách bạt: “Tôi... tôi sẽ ký giấy sang cửa hàng mậu dịch, rút toàn bộ tiền quỹ dự phòng của hợp tác xã để mua!”
Người cán bộ thú y chỉ lắc đầu tuyệt vọng, đôi môi thâm sì run rẩy:
“Lấy đâu ra thuốc hở bác! Cả kho thuốc của huyện chỉ còn vài lọ penixilin quá hạn từ thời chống Mỹ, kim tiêm còn rỉ sét. Thuốc bột sát trùng thì hết nhẵn từ tháng trước. Trên Ty Nông nghiệp tỉnh cũng đang cháy hàng vì dịch bùng phát cùng lúc ở mấy huyện ven sông. Dân bên Đồng Tân giờ chỉ biết nhìn trâu chết trong bất lực, người ta bắt đầu lén mổ thịt chui, rồi thả rông những con ốm dặt dẹo ra bãi đê cho nó tự sinh tự diệt. Đàn trâu bệnh chạy loạn khắp triền sông, gặp bãi cỏ nào gặm bãi ấy... Nước sông Đáy chảy xuôi mang theo mầm dịch, người đi chợ chạy loạn mang theo mầm dịch... Xã ta nằm ngay sát vách, làm sao mà thoát nổi trời ơi!”
Một sự im lặng nặng nề bao trùm. Tiếng nhai rơm ràn rạt của đàn trâu Đội 3 dường như cũng chùng xuống trước linh cảm chẳng lành. Ông Khoát thẫn thờ buông tay, ngồi bệt xuống một khúc gỗ mục bên cạnh cửa lán, đôi mắt đờ đẫn nhìn ra màn mưa mịt mùng. Vừa mới phút trước, ông còn mừng rỡ vì Đội 3 cứu được đàn trâu khỏi rét hại, thì phút này, vực thẳm diệt vong đã mở toang ngay trước mắt.
Giữa lúc mọi người hoang mang tột độ, Hoài An khẽ bước lên một bước. Gương mặt cô vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh lạ lùng, đôi mắt sáng ánh lên tia nhìn sắc bén của một người làm khoa học.
Trong tâm thức của một kỹ sư công nghệ sinh học thế kỷ 21, An hiểu quá rõ: lở mồm long móng là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi-rút thuộc họ Picornaviridae gây ra. Loại vi-rút này có khả năng lây lan khủng khiếp qua đường hô hấp, tiếp xúc trực tiếp, qua giọt bắn nước bọt, và đặc biệt là tồn tại dai dẳng trong chất thải, đất bùn bám vào móng chân súc vật hay đế dép của con người. Nhưng nó lại có một điểm yếu chí mạng: cực kỳ nhạy cảm với nhiệt độ cao, môi trường kiềm mạnh hoặc axit mạnh, và dễ dàng bị bất hoạt bởi các hợp chất tự nhiên có hàm lượng tannin cao.
Thời đại bao cấp này thiếu thốn thuốc tây, không có vắc-xin ngoại nhập, nhưng đồng đất bờ bãi Việt Nam lại không hề thiếu những thảo dược chứa chất kháng sinh thực vật tự nhiên. Điều cốt tử lúc này không phải là ngồi than khóc chờ thuốc của huyện, mà là phải lập tức thiết lập hàng rào ngăn chặn sự lây nhiễm chéo và chuẩn bị sẵn phương tiện phòng hộ dã chiến.
An quay sang nhìn chồng. Trần Bình như bắt được suy nghĩ của vợ, ánh mắt anh đanh lại, sự quyết đoán của người lính từng xông pha trận mạc bừng lên. Anh gật đầu với cô một cái đầy tin cậy.
“Bác Khoát!” Giọng An cất lên, trong trẻo nhưng rành rọt, chặt chẽ từng chữ, kéo bừng sự chú ý của mọi người: “Bác đừng hoảng. Con trùng độc này tuy hung dữ, nhưng cháu từng nghe các cụ lang già và cán bộ quân y thời chiến tranh kể lại, nó chỉ lây mạnh khi trâu bò tiếp xúc gần, hoặc dẫm phải bãi phân, bãi nước dãi của con ốm. Nó sợ vôi bột, sợ nước chát và sợ hơi nóng. Chúng ta hoàn toàn có thể chặn đứng nó từ ngoài đê!”
Ông Khoát ngẩng phắt đầu lên, như người chết đuối chộp được ngọn cỏ:
“Cháu... cháu nói thật chứ An? Chặn bằng cách nào giữa cái đồng không mông quạnh này?”
“Phải lập tức ban bố tình trạng báo động đỏ toàn xã và thiết lập vòng vây cách ly ba tầng!” An dõng dạc nói, từng phương án được vạch ra mạch lạc như một bản kế hoạch tác chiến: “Thứ nhất, lập ngay trạm gác dã chiến trên mặt đê sông Đáy và các ngã ba đường dẫn vào xã An Hòa. Cử dân quân túc trực hai mươi tư trên hai mươi tư giờ, tuyệt đối cấm người ngoài lùa gia súc lạ vào địa bàn.
Thứ hai, ra lệnh cấm triệt để việc chăn thả gia súc tự do. Toàn bộ trâu bò của cả ba đội sản xuất phải bị nhốt chặt trong chuồng, ăn rơm khô và cháo cám nấu chín tại chỗ, uống nước giếng khơi gánh về, không được cho uống nước sông Đáy hay nước mương hở lúc này!
Thứ ba, rải vôi bột khử trùng trên tất cả các tuyến đường huyết mạch. Cửa ngõ mỗi xóm, trước cổng mỗi chuồng trâu phải đào một hố nông rải rơm khô tẩm đẫm nước vôi đặc. Bất kể ai, từ cán bộ xã đến bà con đi làm đồng về, xe thồ, xe đạp, đều phải lội qua hố vôi này để diệt sạch mầm độc dính dưới đế dép, bánh xe!”
Nghe An nói một mạch khúc chiết, khoa học mà lại vô cùng thực tế, người cán bộ thú y huyện há hốc mồm kinh ngạc. Anh ta làm chuyên môn ở huyện bao năm, cũng chỉ biết trông chờ vào chỉ tiêu phân phối thuốc của tỉnh, chưa từng nghe ai đưa ra một quy trình kiểm dịch đồng bộ, chặt chẽ và quyết liệt đến nhường này ngay tại cấp cơ sở.
Bình lập tức bước lên đứng cạnh vợ, bàn tay rắn rỏi đập mạnh xuống bàn tay còn lại:
“Cháu đồng ý với ý kiến của nhà cháu! Thưa Chủ nhiệm, phòng bệnh hơn chữa bệnh. Đội 3 chúng cháu xin nhận nhiệm vụ chốt chặn đoạn đê giáp ranh Thụy Hương ngay trong buổi trưa nay. Nhưng bác phải dùng quyền Chủ nhiệm phát loa toàn xã, yêu cầu Đội 1 và Đội 2 cũng phải lập tức dọn chuồng, nhốt trâu và rải vôi bột. Nếu để một đội lơ là làm lây lan ổ dịch, cả xã sẽ cùng chết chìm!”
Ánh mắt kiên định của đôi vợ chồng trẻ dường như truyền cho ông Khoát một luồng sinh khí mới. Cái vẻ lúng túng, bạc nhược biến mất, bản lĩnh của người cán bộ từng kinh qua kháng chiến trỗi dậy. Ông Khoát bật dậy, chỉnh lại chiếc mũ bông:
“Được! Nghe lời vợ chồng đồng chí Bình! Tôi sẽ lên ngay trạm truyền thanh xã, cho mở hết công suất loa phóng thanh để thông báo chỉ thị khẩn! Vôi bột trong kho hợp tác xã còn ba tấn dự trữ xây lò gạch, tôi cho mở kho xuất hết! Bình, cậu chỉ huy lực lượng Đội 3 lập chốt đê! An, việc sát trùng chuồng trại bằng mẹo dân gian, tôi giao toàn quyền cho cháu chỉ đạo chị em phụ nữ!”
“Rõ!” Bình giơ tay chào theo tác phong quân ngũ.
Tiếng kẻng báo động của xã An Hòa trưa hôm ấy gõ dồn dập khác thường. Từng hồi kẻng keng... keng... keng... vang vọng qua màn mưa phùn, xuyên qua những rặng tre, xé toạc sự u uất của ngày đông giá rét.
Trên loa phóng thanh treo trên ngọn cây đa đầu làng, giọng ông Khoát oang oang phát đi mệnh lệnh phong tỏa kiểm dịch dã chiến. Cả xã An Hòa bừng tỉnh sau cơn ngái ngủ ngày Tết, không khí khẩn trương như bước vào một chiến dịch chống giặc ngoại xâm.
Tại Đội 3, dưới sự chỉ huy của Bình, các thanh niên khỏe mạnh lập tức chia thành hai mũi. Một mũi mang theo xẻng, cọc tre, dây thừng và vôi bột lao thẳng lên triền đê sông Đáy để lập hàng rào rào đê và dựng lán canh dã chiến. Họ đào rãnh ngang mặt đê, đổ đầy trấu mục rồi rắc trắng xóa một lớp vôi bột dày ba tấc, biến con đường độc đạo thành một cửa ải khử trùng nghiêm ngặt.
Trong khi đó, ở hậu phương Đội 3, An nhanh chóng tập hợp chị em phụ nữ lại trong sân kho.
Gió bấc vẫn thổi từng cơn buốt nhói, nhưng trán An lấm tấm mồ hôi vì bận rộn. Cô nhìn quanh một lượt những gương mặt đang lo âu của các bà, các chị, cất giọng ấm áp nhưng đầy uy quyền:
“Các u, các chị! Mầm bệnh này tuy vô hình nhưng chúng ta có thuốc trị ngay quanh bờ rào nhà mình. Bây giờ, chị Đượm dẫn một nhóm mang liềm và thúng ra dọc các con đường xóm, trèo hái hết những lá bàng già, lá bàng bánh tẻ rụng hoặc sắp rụng. Càng già, càng đỏ càng tốt! Một nhóm khác đi chặt vỏ cây xoan đâu và hái thật nhiều lá trầu không già. Vỏ xoan có chất đắng diệt giòi bọ, lá bàng và trầu không có vị chát ngắt giúp làm se vết thương, diệt sạch mầm độc trong miệng và móng chân trâu!”
Chị Đượm nghe thế thì vỗ đùi đánh đét một cái, mặt mày tươi tỉnh hẳn:
“Tưởng cái gì cao sang chứ lá bàng với vỏ xoan thì làng ta bạt ngàn! Đi thôi các chị em ơi, cứu trâu nhà mình, cứu bát cơm của con mình!”
Lời kêu gọi mộc mạc của chị Đượm làm tan biến nỗi sợ hãi. Hơn ba mươi phụ nữ trong đội lập tức chia nhau tỏa đi khắp ngõ ngách. Tiếng chân huỳnh huỵch trên đường làng, tiếng liềm giật cành cây, tiếng gọi nhau í ới át cả tiếng gió rít.
Chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ, sân kho Đội 3 đã chất thành từng đống cao ngút ngàn những gánh lá bàng đỏ ối, những bao tải lá trầu không cay nồng và từng khúc vỏ xoan xù xì bốc mùi hăng hắc.
An cho người khiêng ba chiếc chảo gang đại chuyên dùng nấu chè kho ngày hội làng đặt lên các bếp lò dã chiến ngoài trời. Củi gộc được nhóm lên, ngọn lửa đỏ rực bập bùng xua tan cái rét cắt da cắt thịt.
Lá bàng được vò nát, rải từng lớp dày vào chảo cùng với vỏ xoan băm nhỏ và một lượng muối hạt vừa phải. Nước giếng khơi trong vắt được múc đổ ngập chảo. Chẳng mấy chốc, ba chiếc chảo gang khổng lồ sôi sùng sục, bốc lên những cuộn hơi nước màu nâu sẫm, đặc quánh và thơm nồng một mùi chát gắt đặc trưng của chất tannin đậm đặc.
An cầm một chiếc gậy tre dài cẩn thận khuấy đều chảo nước. Cô đứng sát miệng lò, hơi nóng phả vào làm đôi má rám nắng của cô ửng hồng.
Nhìn vào chảo nước thuốc đang sôi cuồn cuộn, An khẽ mỉm cười tự tin. Hợp chất tannin tự nhiên khi gặp protein ở vết thương hở sẽ lập tức kết tủa tạo thành một màng bảo vệ sinh học vững chắc, vừa ngăn chặn vi-rút xâm nhập sâu vào máu, vừa làm khô ráo các vết lở loét và chống hoại tử cực kỳ hiệu quả. Kết hợp với tro bếp tôi vôi có tính kiềm mạnh, đây chính là thứ “vắc-xin sát trùng” rẻ tiền mà thần kỳ nhất mà thiên nhiên ban tặng cho người nông dân nghèo.
“Nước được rồi đấy các chị!” An cất tiếng: “Múc ra từng xô gỗ, để nguội bớt cho ấm rồi chia nhau mang vào chuồng trâu!”
Một quy trình chăm sóc đặc biệt được triển khai nhịp nhàng dưới sự hướng dẫn tỉ mỉ của An.
Từng con trâu trong lán Đội 3 được các xã viên dắt ra mép chuồng. Chị Đượm dùng một chiếc khăn vải màn sạch nhúng vào chậu nước muối loãng pha phèn chua ấm, nhẹ nhàng lau sạch bọt dãi quanh mép và trong khoang miệng trâu. Con trâu ngoan ngoãn đứng yên, dường như cảm nhận được sự chăm sóc ân cần của con người nên chỉ khẽ chớp đôi mắt to tròn ươn ướt.
Sau đó, An trực tiếp bưng xô nước lá bàng đặc quánh, ấm nóng đến bên từng chân trâu. Cô hướng dẫn bà con dùng chổi đóm nhúng đẫm nước thuốc, cọ rửa kỹ càng từng kẽ móng, từng gót chân của gia súc. Những chỗ da non có dấu hiệu sưng đỏ lập tức được rửa sạch chất bẩn. Cuối cùng, An rắc lên kẽ móng một lớp bột mịn gồm tro bếp sạch trộn lẫn vôi bột đã tôi khô theo tỷ lệ vàng, rồi dùng bao tải sạch quấn nhẹ quanh cổ chân trâu để giữ ấm và ngăn bùn bẩn.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…