Bụi Men Thao Thiết Soi Bóng Thuyền Đêm
Chương 14: Bản Đồ Luồng Xoáy
Làn gió đêm từ mặt sông Tiền thổi thốc qua rặng bần, xua tan mùi dầu khét lẹt của hai chiếc sà lan vừa rút chạy. Cụ Ngọ Doãn Đăng dừng chân nơi đầu bờ bến, khẽ nghiêng đầu lắng nghe tiếng lá dừa nước xào xạc bất thường cách đó chừng hai mươi sải tay. Trong màn đêm đặc quánh, đôi mắt quắc thước của cụ lướt qua khoảng tối nơi một bóng đen đang vội vã lủi sâu vào lùm rậm, kéo theo tiếng mái chèo khẽ khàng lướt nước.
— Cụ Ngọ, có kẻ rình mò sao cụ? — Lê Thục Đoan bước nhanh đến bên cạnh, bàn tay đặt hờ lên bao da đựng sổ tay, ánh mắt cảnh giác dõi theo hướng nhìn của cụ già.
Cụ Đăng vuốt nhẹ chòm râu bạc dài chấm ngực, khẽ lắc đầu, nụ cười trên gương mặt đôn hậu vẫn không hề biến sắc:
— Một chiếc ghe lườn do thám của hãng Bá Kỳ đấy thôi. Chúng vừa nếm mùi thất bại ở mỏ sét nên phải ráng nhòm ngó xem ai là rường cột nơi xóm bến này. Ta đã lường trước điều đó. Đêm đã khuya, sương muối xuống nhiều rồi, cô Đoan cùng bà con mau vào trong xưởng nung gốm. Việc lớn trước mắt không thể chậm trễ thêm một khắc nào nữa.
Bên trong gian nhà xưởng thênh thang của lò Cổ Thao Thiết ven rạch Cái Sơn, ngọn đèn măng-xông treo trên vì kèo tỏa ánh sáng vàng rực. Mùi tro trấu, đất sét ướt cùng hơi nồng ấm của mẻ gốm nguội phủ khắp gian phòng. Những người thợ già dày dạn sương gió của phường gốm cùng hai tay thợ lặn Ba Định và Hai Lãm đã ngồi quây quần quanh chiếc bàn thợ dài đóng bằng gỗ mù u bản lớn. Trên gương mặt khắc khổ của ai nấy đều hằn rõ nét đăm chiêu lo ngại khi nghĩ đến chuyến lặn xuống đáy vụng Vàm Cỏ Lau.
— Thưa cụ Ngọ, — Hai Lãm kéo chiếc khăn rằn lau mồ hôi trên vầng trán cháy nắng, cất giọng trầm trầm. — Vũng Vàm Cỏ Lau lúc nước ròng kiệt sâu tới mười hai thước nước. Nước chảy xiết như cắt da cắt thịt, áp lực tầng đáy nặng tựa ngàn cân đè lên ngực. Ghe Thuận An chìm đã nhiều ngày, bùn nhão bồi lấp tới quá nửa lườn. Tụi con dẫu quen lặn ngụp bắt cá, nhưng xuống độ sâu dường ấy để mò mẫm mạn đáy thì hiểm nguy khôn lường.
Cụ Đăng từ tốn ngồi xuống ghế đầu bàn. Cụ không vội đáp lời, mà ra hiệu cho một người thợ trẻ bưng lên một chiếc khay đồng lớn sâu lòng đã được đổ đầy nước cùng lớp cát phù sa mịn lót dưới đáy. Cụ đặt bản vẽ tay luồng xoáy thu giữ từ người tên Thạch Vong sang bên cạnh chiếc khay. Dưới ánh đèn sáng tỏ, cụ rút từ túi áo ra một chiếc dùi gỗ mun nhỏ, khẽ khuấy đều nước theo chiều kim đồng hồ, rồi nhẹ nhàng thả vào tâm xoáy vài cánh hoa mộc lan trắng muốt.
Những cánh hoa lập tức bị cuốn tròn, ngụp lặn theo từng đường xoắn ốc rồi dạt mạnh về một góc khay, nằm nghiêng chênh chếch trên gờ cát.
— Các chú nhìn kỹ chuyển động của cánh hoa này, — Cụ Đăng cất giọng ấm áp, rành rẽ từng tiếng giữa gian xưởng tĩnh lặng. — Bản vẽ của Thạch Vong ghi nhận rất chuẩn xác: tầng mặt nước phẳng lặng, nhưng tầng đáy lại có luồng xoáy ngầm vặn xoắn dạng phễu nón ngược lệch mười lăm độ. Khi chiếc Thuận An trúng luồng nước ấy, hai khối chì đúc dằn lệch ở mạn phải đã kéo ghì thân thuyền xuống, cưỡng bức vỏ ghe lật nghiêng đúng bốn mươi lăm độ trước khi cắm mũi xuống bùn.
Cụ Đăng dùng đầu dùi gỗ mun chỉ vào một điểm trên bản vẽ luồng nước:
— Chiếc ghe hiện nằm nghiêng lệch tâm phễu xoáy, mạn đáy phía lỗ thủng bị kê hổng trên một gờ đá ngầm vùi cát. Thớ gỗ sau nhiều ngày ngâm nước sâu đã bắt đầu no nước, mềm mục. Nếu các chú dùng búa hay xà-beng nạy phá thô bạo, lực va đập cùng áp suất nước tầng đáy sẽ lập tức bẻ gãy vụn toàn bộ mảng ván, phá hủy hoàn toàn rãnh xoắn cơ học của mũi khoan thép. Muốn lấy trọn mảng ván mạn nguyên vẹn mà không làm rách thớ gỗ, thợ lặn tuyệt đối không được đục đẽo.
Ba Định ngẩng đầu, đôi mắt lộ vẻ kinh ngạc:
— Không đục thì làm sao tháo được tấm ván đáy to tướng ấy lên, thưa thầy Ngọ?
— Phải dùng cưa dây thép gai luồn qua dưới ki ghe, — Cụ Đăng điềm đạm giải thích. — Hai người lặn xuống phối hợp, một người kéo đầu dây bên mạn trái, một người đón đầu dây bên mạn phải. Lưỡi cưa dây thép mỏng và sắc sẽ ngọt ngào cắt xuyên qua lớp đinh đồng và chốt then gỗ mà không tạo lực chấn động lên mạn lườn. Chỉ cần cưa đứt bốn góc khung xương sườn, mảng ván mạn sẽ tự động tách rời nguyên vẹn.
Nghe phương án rành mạch, chuẩn xác đến từng chi tiết cơ học, Hai Lãm và Ba Định đưa mắt nhìn nhau, ánh lên vẻ khâm phục sâu sắc. Nỗi hoang mang, sợ hãi trước sự dữ dằn của con nước dường như vơi đi hơn phân nửa.
Đúng lúc ấy, cánh cửa xưởng nung khẽ kẹt mở. Phan Thị Lụa bước vào, dáng vẻ gầy guộc trong chiếc áo bà ba đen rộng thùng thình che chiếc bụng mang thai tháng thứ sáu. Đôi mắt trũng sâu vì chuỗi ngày đau buồn nay đã ánh lên nét kiên định lạ thường. Hai tay chị ôm chặt một cuốn sổ bọc bìa da trâu đã sờn rách mép, bước từng bước run rẩy nhưng dứt khoát đến bên bàn.
— Cụ Bác… — Chị Lụa cất giọng nhỏ nhẹ, nghẹn ngào nhưng chân thành. — Đây là cuốn sổ tay kỹ thuật đóng ghe mà nhà con để lại dưới đáy rương trước chuyến đi định mệnh. Anh Toàn ghi chép cẩn thận từng tấc gỗ, từng mũi then khi đóng chiếc Thuận An. Con xin trao lại cho cụ Bác và cô Đoan, mong rửa sạch nỗi hàm oan cho anh ấy.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…