Chuyến Phà Đêm Tìm Lại Mùi Khói Bếp
Chương 2: Ngọn Gió Chướng Đêm Đông
Tiếng sóng vỗ bồm bộp vào bờ đá hoa cương tựa như từng nhát búa nện thẳng vào lồng ngực gầy guộc của Cầm Bá Huân. Cụ già chín mươi sáu tuổi run rẩy khép nắp tráp gỗ hương, cài then đồng lại thật khẽ khàng, như sợ làm kinh động đến linh hồn của chuỗi ngày êm ấm đã vĩnh viễn trôi xa. Cụ khẽ thở hắt ra một hơi dài, dợm bước rời khỏi mé phản gỗ. Khớp xương cùm cụm buốt nhói trong căn nhà vắng tanh, buốt lạnh thấu tận xương tủy.
Không chịu nổi cái quạnh quẽ ngột ngạt của bốn bức tường gạch, cụ Huân với lấy cây gậy tầm vông gác bên vách, quấn thêm chiếc khăn rằn sờn mép quanh cổ rồi đẩy then cửa bước ra ngoài. Đêm đông miền sông nước tối đen như mực. Bầu trời không một ánh sao, chỉ có màn sương mù bàng bạc từ mặt rạch bốc lên, phủ một lớp màn ẩm ướt, lành lạnh lên chòm râu bạc phơ như cước. Đôi chân trần gân guốc của lão phu phà tám mươi năm bấm sâu xuống nền đất phù sa ẩm ướt, dò dẫm từng bước lần ra mé sông nhánh.
Gió bấc thổi thốc từng cơn ràn rạt qua rặng bần già mé bờ. Đứng bên trụ đá hoa cương sừng sững neo giữ đầu dây cáp mây bọc đồng, cụ Huân dừng chân, phóng tầm mắt qua mạn cồn Bưởi xa xăm. Ở doi đất bãi bồi cách bờ một dặm đường sông ấy, mọi cảnh vật đều nhòa đi trong sương dày đặc, chỉ còn le lói một đốm sáng đỏ quạch, chập chờn như mắt đom đóm đậu bên bờ lau sậy. Cụ biết rõ đó là ngọn đèn dầu nơi chòi lá của bà Nhạn. Suốt nửa năm qua, đốm sáng nhỏ nhoi ấy chưa từng tắt trước canh ba.
Bỗng nhiên, ngọn gió đổi chiều. Luồng gió chướng đầu mùa từ ngoài cồn Bưởi thổi tạt qua mặt nước, mang theo hơi lạnh buốt giá và một mùi hương quen thuộc đến nao lòng. Cụ Huân bất giác hít sâu một hơi, sống mũi cay xè. Mùi khói củi mù u quyện chặt với mùi vỏ bưởi nướng khô bay là đà trên mặt sóng. Mùi hương ngai ngái, the the, ấm nồng mà suốt bảy mươi tư năm làm vợ chồng, đêm nào cụ cũng ngửi thấy trước khi chìm vào giấc ngủ. Thuở bà Nhạn còn ở nhà ngói, cứ hễ chiều buông là bà lại gom đống vỏ bưởi phơi khô nơi góc sân, đem un dưới gầm giường và quanh chái bếp để xua muỗi, đuổi gió độc cho cụ. Mùi khói bình dị ấy từng là hơi ấm che chở cho cả nếp nhà, vậy mà cụ chỉ xem như lẽ dĩ nhiên, thậm chí có những buổi chiều bực dọc chuyện bến bãi, cụ còn lớn tiếng gắt gỏng chê mùi khói làm cay mắt. Giờ đây, trơ trọi giữa trời đêm buốt giá, thèm một ngọn khói cay nồng sưởi ấm tâm can cũng chẳng thể tìm đâu ra.
Hòa cùng tiếng nước ròng róc rách luồn qua những chân cọc tre cắm bờ, đêm thanh vắng bỗng dội về từng chuỗi âm thanh lách cách nhè nhẹ. Cụ Huân nín thở, vểnh đôi tai già nua lắng nghe. Tiếng khua thau nhôm va vào nhau chầm chậm, đều đặn theo nhịp tay người.
— Lại thức bóp cùi bưởi rồi... — Cụ Huân lẩm bẩm, giọng run run nghẹn ứ nơi cổ họng.
Cụ nhắm mắt lại, mường tượng rõ mồn một dáng hình nhỏ thó, còng rạp của bà Nhạn bên chiếc bàn cây tạp ngoài chòi lá. Giờ này, lưng bà hẳn đang đau nhức sau một ngày dài cuốc đất, gánh nước ngoài bãi cồn, nhưng đôi bàn tay nhăn nheo vẫn phải ngâm ngập trong chậu nước lạnh buốt. Để có được mẻ chè bưởi thơm ngon mang ra chợ bán vào lúc tảng sáng, người nấu phải gọt bỏ lớp vỏ xanh bên ngoài, chỉ lấy phần cùi xốp trắng tinh xắt hạt lựu. Cùi bưởi ấy phải đem bóp xả nhiều lần với muối hột, bóp thật đều tay để chất đắng gắt ứa hết ra ngoài mà không làm nát vụn miếng cùi, rồi lại ngâm nước tro tàu cho từng miếng cùi giữ được độ giòn sần sật. Muối hột cắn vào da thịt nứt nẻ của người già buốt xót biết chừng nào!

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…