Cỗ Đầu Rau Đất Thó Lắng Tiếng Khóc Đêm Mưa
Chương 10: Gió Đổi Chiều Bên Kè Cây Da Chìm
Dải khói trấu nếp trắng ngà tựa như dải lụa bạch vẫn uốn lượn lơ lửng trên bãi cát ẩm, đầu dải khói vươn dài chỉ thẳng vào hốc đá rậm rạp rêu phong chìm sâu dưới chân kè Cây Da Chìm. Bên cạnh cụ Sơn Khắc Uy, cô Sen vẫn đứng chết lặng, hai bờ vai gầy run lên bần bật dưới lớp áo nâu bạc màu vì lạnh và nỗi kinh hoàng chưa tan. Tiếng rên rỉ ai oán từ kẽ đá sâu thẳm ngoài mé nước dội vào màng nhĩ mỗi lúc một thêm thê thiết, buốt nhói như chọc thẳng vào tâm can.
Cụ Uy đưa hai bàn tay gồ ghề đón lấy chiếc trâm tre cẩn thận trao lại cho người góa phụ, ánh mắt trầm tĩnh nhưng chan chứa sự chở che ấm áp: — Con cầm lấy trâm tre cài chặt lên búi tóc, mau trở về chòi lá đóng chặt then nứa mà ôm lấy bé Mận. Đêm rằm canh ba sương muối độc lắm, việc nơi bến bãi này cứ để lão lo liệu.
Cô Sen run rẩy nhận lại kỷ vật của chồng, hai hốc mắt đỏ hoe nhìn cụ Uy với vẻ dùng dằng không nỡ: — Cụ đã tám mươi tám tuổi đầu, một mình ở lại gò cát hứng gió bão... ngộ nhỡ có điều chi trắc trở thì mẹ con con biết cậy nhờ vào đâu?
— Lão sống gần trọn một thế kỷ bên bãi bồi này, đất chở che dưới chân, trời công đạo trên đầu, tà ma hay lòng dạ hiểm độc nào hại nổi tấm thân già này. — Giọng cụ Uy trầm vang, đanh thép mà đôn hậu. — Con về đi, chớ để con trẻ giật mình thức giấc nửa đêm một mình trong chòi lạnh.
Thấy vẻ quắc thước kiên định của cụ, cô Sen không dám trái lời. Cô khẽ gạt giọt nước mắt lăn dài trên gò má sạm nắng, cúi đầu vâng dạ rồi rảo bước nhanh về phía chòi nứa ven bờ.
Bóng dáng hao gầy của người phụ nữ vừa khuất sau rặng dứa dại, gò cát bến sông lại chìm vào khoảng không tịch mịch. Đêm rằm tháng Tám sương muối giăng mờ mịt khắp mặt dòng Thu Bồn buốt giá. Vầng trăng trên cao bị những dải mây xám xịt nuốt trọn, chỉ hắt xuống bến bãi hoang sơ một thứ ánh sáng nhờ nhợt, lạnh lẽo tựa như rắc tro tàn.
Cụ Uy quay lại ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu cói mòn. Gió bấc từ lòng sông thốc lên mang theo hơi nước buốt giá khiến vạt áo nâu sồng phần phật đập vào ống chân. Cụ thong thả đưa bàn tay vệt đất vốc thêm một nắm trấu nếp cùng ít rơm khô thả vào khoảng rỗng giữa ba chân bếp thó. Than hồng đang ủ kín gặp mồi bén lửa bốc lên ngọn đỏ le lói, tỏa ra mùi thơm ngai ngái quen thuộc của đồng đất quê hương. Hơi ấm thuần hậu lập tức lan tỏa, đẩy lùi khối hàn khí đang bủa vây quanh gò cát.
Cụ Uy khép hờ mí mắt, bắt đầu vận chuyển hơi thở theo phép điều tức sâu mà tổ tiên cư dân gò đồi truyền lại qua nhiều đời. Lồng ngực cụ phập phồng chậm rãi, sâu thẳm, từng luồng dưỡng khí thanh sạch của đất trời đi vào đan điền rồi tỏa ra khắp kinh mạch, giúp tâm trí an định và ngũ quan trở nên tinh tường kỳ lạ. Cụ chăm chú quan sát sự đối lưu của các luồng khí qua ba cửa vòm thông gió được khoét khéo léo nơi thân bếp.
Cửa vòm hướng ra sông đón lấy từng ngọn gió tự nhiên khoáng đạt, ngọn lửa bên trong chỉ khẽ chao liệng nhịp nhàng theo con nước ròng. Nhưng cửa vòm chĩa về phía kè đá Cây Da Chìm thì hoàn toàn khác biệt. Cứ cách chừng mươi hơi thở, một luồng khí gắt gao lại thốc mạnh vào thân gốm, làm tàn tro đỏ rực xoáy tròn bấn loạn.
Bằng trực giác nhạy bén và thuật nghe gió tích lũy qua mấy mươi năm nặn lò, cụ Uy nhận ra tiếng khóc than đêm nay có nhịp ngắt quãng đều đặn đến gượng gạo. Tiếng rên xiết thảm sầu ấy không hề biến thiên tự nhiên theo nhịp sóng dập dềnh của dòng sông Thu Bồn, mà chuyển động theo từng đợt dồn ép hơi cố định, giống hệt nhịp thụt đều tay của chiếc bễ da trâu thợ rèn hay phường xông trầm. Kẻ giấu mặt đang dùng sức người ép gió qua một khe hẹp để tạo ra âm thanh rợn người, khuấy đảo sự hoang mang của xóm chài nhằm ép người thế cô vào bước đường cùng.
Thế nhưng, sau cái rền rĩ giả tạo của nhịp bễ ép, thính giác và linh cảm của cụ Uy vẫn bắt được một làn rung động lạnh buốt rỉ ra từ kẽ sâu lòng đất. Đó là tiếng nấc nghẹn ngào u uất của xương cốt nằm dưới chân kè, một nỗi oan khiên chưa được cởi bỏ.
— Giả thần lộng quỷ để che giấu tội ác tày trời, khéo mấy cũng có ngày bại lộ trước đất trời. — Cụ Uy lẩm bẩm, đôi mắt ánh lên tia sáng kiên định.
Nhìn lại cỗ bếp đất thó, cụ thấy dải khói trấu nếp vẫn cuộn tròn bạt nghiêng, vạch thành một đường dẫn mỏng manh nhưng dứt khoát băng qua năm mươi thước cát bồi, hướng thẳng tới gốc da chìm. Khói của rơm nếp mang tính Thổ thuần dương ấm áp, hễ gặp khí lạnh nặng nề nơi huyệt tối thì bị cuốn hút về phía đó như sợi chỉ tìm về trăng kim.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…