Cỗ Đầu Rau Đất Thó Lắng Tiếng Khóc Đêm Mưa
Chương 13: Hơi Ấm Trấu Nung & Vết Nứt Chân Kè
Luồng khí lạnh rợn người từ kẽ nứt chân kè đá phả thẳng vào gương mặt quắc thước của cụ Sơn Khắc Uy. Giữa đêm khuya thanh vắng, tiếng nấc nghẹn ngào rười rượi vọng lên từ lòng đất như xé toạc màn sương buốt giá trên bến sông Thu Bồn. Đó không còn là thứ âm thanh rít gắt, cơ xảo của chiếc ống đồng nối bễ thổi, mà là tiếng hờn oán khôn nguôi của sinh linh chìm khuất nơi đáy nước tự thuở nào.
Hàng chục người dân xóm Gò Đỏ khiếp đảm lùi giật lại phía sau. Những ngọn đuốc nứa trên tay tráng đinh run lên bần bật, rọi vào từng gương mặt tái mét. Mấy cụ già chắp tay vái lạy về phía gốc da cổ thụ, miệng lẩm bẩm khấn xin Thổ Công, Hà Bá xá tội: — Trời ơi, bễ giả vỡ rồi mà ma vẫn khóc! — Dưới kè đá có oan hồn thật rồi bà con ơi!
Ông Lý trưởng đứng chôn chân trên bùn trơn, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Nhìn Thầy Ba Quản cùng bọn Đội Cán đang bị trói nằm sõng soài dưới chân cụ Uy, ông Lý mới sực tỉnh cơn bàng hoàng, vội the thé quát mấy tuần đinh: — Mau trói chặt cánh khuỷu lũ giả thần lộng quỷ này lại, điệu ngay về điếm canh xóm trên! Chờ rạng sáng, lão sẽ áp giải chúng lên nha môn cho quan trên định đoạt! Đứa nào để sổng thì gánh tội thay!
Anh Cai Tám và anh Vực siết chặt dây trói quanh bắp tay Đội Cán, cùng mấy trai làng xốc nách lôi ba kẻ gian tà rời khỏi bờ kè. Tiếng Thầy Ba Quản khóc lóc van xin nhỏ dần rồi chìm hẳn vào con đường mòn ngập nước dẫn lên xóm trên.
Thế nhưng, sau khi đám người kéo đi, không khí quanh chân kè Cây Da Chìm càng thêm buốt giá. Hơi lạnh ngai ngái mùi đất bùn cùng rêu mốc tanh nồng cứ rỉ ra từng chặp từ miệng hốc đá. Mấy người thợ lò nán lại đều co ro rụt cổ, ánh mắt hoang mang nhìn vào khe nứt tối om.
Cụ Uy chậm rãi đứng dậy, đôi mắt đen lánh nhìn quanh bến sông. Cụ hiểu rõ lẽ âm dương nơi đất bãi: tà ma giả trá thì dùng sức người đập tan, nhưng nỗi u uất tích tụ nơi đất lạnh sông sâu thì phải lấy hơi ấm thuần hòa mà vỗ về. Cụ quay sang bảo một tráng đinh: — Chú theo lão ra gò cát, đỡ cỗ đầu rau lại đây.
Chẳng mấy chốc, cỗ đầu rau ba chân bằng đất thó được khiêng lại đặt sát vách đá Cây Da Chìm. Cỗ bếp đất nặn từ phù sa hòa tro trấu nếp đã se cứng mặt, than trấu bên trong vẫn ủ những đốm hồng. Cụ Uy ngồi xếp bằng xuống lớp sỏi ẩm, bốc từng nắm rơm nếp khô thả vào lòng lò rồi nhen lửa.
Ngọn lửa bén rơm bùng lên vàng rực, tỏa mùi thơm nồng đượm của lúa mùa và tro trấu. Cụ Uy xoay hướng cỗ đầu rau, để hai vòm cửa gió đón luồng gió bến sông, còn vòm cửa chính hướng thẳng vào khe nứt chân kè.
Hơi ấm Thổ thuần hòa ngùn ngụt lan tỏa, từng đợt hơi nóng phả thẳng vào vách đá ngậm nước. Lạ lùng thay, luồng hàn khí thấu xương từ kẽ đá vừa chạm phải làn khói trấu ấm áp liền tan dần như sương gặp nắng sớm. Tiếng nấc nghẹn ngào ai oán dần lắng xuống, rồi im bặt giữa tiếng rơm nổ lách tách vui tai. Hơi ấm lan khắp bờ kè khiến dân làng thở phào nhẹ nhõm, sắc mặt dần hồng hào trở lại.
Đợi cho ngọn lửa rực sáng soi tỏ bờ kè, cụ Uy cúi sát người, đưa bàn tay to dày miết dọc theo các thớ đá hộc xù xì.
Bờ kè này do Bá hộ Hạp đắp từ bảy năm trước, ngay sau vụ đắm thuyền mùa lũ năm Đinh Mão. Khi ấy, họ Bá lớn tiếng rêu rao là bỏ tiền công đức ngăn sạt lở bến sông. Nhưng giờ đây, dưới ánh lửa soi rọi, đôi mắt tinh tường của cụ nhận ra những dấu vết bất thường giấu kín suốt ngần ấy năm.
Những phiến đá hộc bên ngoài xếp chắp vá, kẽ đá không dùng vữa tam hợp tôi kỹ theo lối thợ nề xứ Quảng, mà chỉ là vôi sống trộn quấy quá với mật mía, trát vội che kín mặt ngoài. Bảy năm ngâm dưới dòng nước lũ, lớp vôi bở bục dần, để lộ những vết nứt toác ăn sâu vào chân kè.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…