Cỗ Đầu Rau Đất Thó Lắng Tiếng Khóc Đêm Mưa

Chương 18: Hài Cốt Đáy Kè & Vết Đục Oan Khiên

Tiếng vó ngựa dồn dập xé toạc màn sương mai đùng đục như nước vo gạo bên bến sông Thu Bồn. Cụ Sơn Khắc Uy đứng thẳng lưng bên cỗ đầu rau đất thó ba chân, đôi mắt quắc thước dõi qua màn khói trấu mỏng. Hơn chục con ngựa sắc vóc lực lưỡng của nha môn phủ đường rẽ màn sương bãi bồi xông tới, móng sắt nện cồm cộp lên nền sỏi vụn. Đi đầu là một vị quan trung niên trạc ngoài bốn tuần, nét mặt nghiêm nghị, vận phẩm phục chỉnh tề, khoác áo dạ sẫm chắn gió sông. Ngay phía sau, anh Cai Tám nhảy vội xuống khỏi lưng ngựa của viên cai đội, cả người ướt đẫm nước mưa và bùn non nhưng ánh mắt ngời lên niềm kiên định, hai tay vẫn ôm chặt chiếc bọc vải nâu đựng trâm tre hoa tiêu và mẩu ván kiền vấy máu.

Đoàn ngựa ghìm cương dừng lại sát chân gò cát. Viên Quan Tri phủ quét ánh nhìn sắc như dao cạo qua đoàn xe bò chở đá hộc đang nằm chết gí dọc bến bãi, rồi dừng lại nơi bờ kè Cây Da Chìm loang lổ vết nứt rỉ rêu đen. Nhìn thấy quan lớn đích thân vi hành, Bá hộ Hạp đang ngồi co ro trên đầu xe bò vội lồm cồm bò xuống, chiếc quạt đồi mồi tuột khỏi tay rơi tõm vào vũng bùn. Y luống cuống vuốt lại nếp áo the nhàu nát, bước giật lùi rồi quỳ rạp xuống mé cát, giọng the thé run bần bật: — Lạy quan lớn! Bẩm quan... thảo dân chỉ vâng lệnh tu bổ bờ kè xung yếu trước mùa lũ lớn... Lũ thợ lò xóm Gò Đỏ làm loạn ngăn cản, cậy đông ép người...

Quan Tri phủ chẳng thèm nhìn xuống kẻ đang dập đầu, vung tay áo quát lớn: — Đồ to gan! Bản phủ nhận đơn tố giác khẩn cấp kèm theo vật chứng chốt then hoa tiêu và mẩu ván thuyền Vạn Lợi vấy máu tìm thấy nơi bờ kè này. Ngươi kéo phu phen chở đá ra lấp khoang sụt lở giữa canh khuya, là hộ đê hay muốn chôn giấu uế vật, hủy hoại hiện trường thảm án năm Đinh Mão? Lính đâu!

— Dạ! — Tiếng dạ ran của hàng chục nha dịch vang rền mặt nước.

— Phong tỏa toàn bộ chân kè Cây Da Chìm! Kẻ nào dám xê dịch một tấc đất, nhấc một hòn đá, chém đầu thị chúng!

Tiếng chiêng lệnh lại gióng lên ba hồi dõng dạc. Đám phu phen khiếp vía lùi dạt ra xa, nha dịch lập tức tuốt gươm cắm mốc giăng dây đỏ niêm phong trọn dải bờ kè. Bá hộ Hạp mặt cắt không còn giọt máu, hai đầu gối nhũn ra như bún, ngã ngồi bệt xuống đống sỏi ướt lạnh.

Quan Tri phủ rảo bước lại gần gò cát, chắp tay cúi đầu chào cụ Sơn Khắc Uy: — Cụ Uy, bản phủ trên đường qua đò đã nghe Cai Tám thuật lại tường tận. Giữ được hiện trường trọn vẹn qua một đêm mưa bão hiểm nghèo thế này, công đức của cụ già tám mươi tám tuổi thật lớn tựa Thái Sơn!

Cụ Uy khẽ chắp hai bàn tay gồ ghề vệt đất đáp lễ, giọng điềm đạm mà sang sảng: — Lạy quan lớn, lão chỉ làm phận sự của người cầm nắm đất giữ lửa xóm lò. Kè đá này xây bằng đá hộc trát vôi sống trộn mật mía từ bảy năm trước, nhưng bên trong là một khoang rỗng chứa đầy tử khí. Đêm qua mạch nước đen rỉ ra từ kẽ nứt mang theo tro lạnh và hơi hướm oan hồn. Xin quan cho người dùng hơi lửa cỗ đầu rau dò tìm luồng phong khí, ắt tìm ra cửa hầm chôn giấu tội ác.

Cụ Uy cúi người nhấc cỗ đầu rau ba chân đặt áp sát vào kẽ nứt lớn nhất nơi vách đá chân kè. Lửa than rơm nếp bên trong vẫn còn âm ỉ đỏ hồng. Cụ thò tay vào túi áo lấy ra một nắm cám trấu khô rắc nhẹ vào lòng lò. Một luồng khói trắng thơm nồng bốc lên nghi ngút. Lạ lùng thay, luồng khói không tản ra sông theo chiều gió bấc mà như có bàn tay vô hình dẫn dắt, cuộn tròn thành hình phễu rồi bị hút ngược vào sâu trong kẽ đá nứt toác.

Cụ Uy giơ ngón tay chỉ thẳng vào điểm khói xoáy sâu nhất: — Chỗ này là rốn khí! Khoang rỗng ngầm nằm ngay dưới gốc rễ si ăn sâu ba thước. Đào từ mỏm đá này xuống sẽ không làm sập bờ kè!

Quan Tri phủ gật đầu dứt khoát, vung tay truyền lệnh: — Phu dịch và tráng đinh đâu! Đem xà beng, cuốc sắt đào sâu ba thước theo luồng khói cho ta!

Được lệnh quan trên, anh Vực cùng đám trai tráng xóm Gò Đỏ cầm xà beng sắt lao vào tiếp sức cùng nha dịch. Từng tảng đá hộc nặng trịch trát vôi mật mía rữa mục bị bẩy tung, văng ra ngoài bờ cát. Đất sét vàng ngậm nước lũ dẻo quánh bốc lên mùi hôi thối, nồng nặc tử khí lẫn mùi dầu trẩu lâu năm. Tiếng cuốc va vào đá phát ra những tia lửa lách tách giữa sương sớm.

Khi lưỡi xà beng của anh Vực cắm phập xuống lớp đất sâu đúng ba thước, một tiếng "thùng" rỗng tuếch vang lên làm chấn động lòng đất.

— Có khoang rỗng! Bên dưới có hầm xây! — Anh Vực hét lớn, mồ hôi nhễ nhại trên trán.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Nhật Minh
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Nhật Minh

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…