Cỗ Đầu Rau Đất Thó Lắng Tiếng Khóc Đêm Mưa
Chương 22: Khói Ấm Chiêu Niệm & Vong Hồn Tạ Từ
Nghe lời dặn dò chan chứa ân tình, cô Sen nghẹn ngào gật đầu, vòng tay ôm chặt bé Mận vào lòng. Cụ Sơn Khắc Uy mỉm cười hiền từ nhìn mẹ con người góa phụ rồi thong thả rảo bước trên dải cát bồi, nơi dòng nước đỏ nặng phù sa vừa được khơi thông sau khi bờ kè Cây Da Chìm sụp đổ.
Sớm hôm sau, sương thu bảng lảng tan dần trên mặt sông Thu Bồn khi ánh bình minh dát một dải lụa vàng óng ả qua bến bãi. Ngay trước tiền đường đình làng xóm Gò Đỏ, một buổi lễ tiễn đưa trang nghiêm đã được chuẩn bị chu tất. Bốn chiếc hũ sành da lươn đựng tro cốt của bốn người bạn phu thuyền năm xưa được phủ vải điều đỏ thắm, đặt ngay ngắn trên những chiếc cáng tre lót rơm nếp sạch sẽ. Cụ thợ mộc Cả Ngoạn cùng thân nhân từ xóm Thợ Mộc bên hữu ngạn đã tề tựu đông đủ bên bến sông với hai chiếc thuyền tam bản lớn chực sẵn dưới mé nước.
Dân làng xóm Gò Đỏ, từ ông Lý trưởng cho đến đám tráng đinh lực lưỡng như Cai Tám, anh Vực, đều đứng lặng hai bên đường tiễn biệt. Những nén hương trầm được thắp lên, khói thơm nghi ngút quyện trong tiếng kinh cầu siêu trầm bổng của các bậc cao niên. Cụ Cả Ngoạn run rẩy bước lại gần, hai tay nắm chặt lấy đôi bàn tay chai sần của cụ Uy, giọng nghẹn lại sau làn nước mắt:
— Anh Uy ơi, ơn sâu nghĩa nặng này của anh và bà con xóm Gò Đỏ, xóm mộc chúng tôi xin tạc dạ ghi lòng. Hôm nay chúng tôi rước các cháu về lại bến quê mạn ngược để mồ yên mả đẹp, rửa sạch nỗi oan khiên bấy lâu nơi đáy nước lạnh buốt.
Cụ Uy khẽ vỗ về lên mu bàn tay người bạn già, giọng trầm ấm vang vọng giữa không gian tĩnh mịch:
— Chú Cả chớ bận lòng. Người thác đi rồi thì cốt gửi về đất mẹ, hồn gửi vào khói hương tiên tổ. Nay tiếng oan đã tỏ, dòng sông đã sạch bóng gian tà, đưa các chú ấy về với đất quê là trọn vẹn nghĩa nhân tình đời. Chúc các chú thuận buồm xuôi gió.
Tiếng trống đình điểm ba hồi trầm hùng tiễn khách. Hai chiếc thuyền chở thân nhân và bốn linh cữu rẽ sóng rời bến, ngược dòng về quê nhà mạn ngược trong niềm tiếc thương xen lẫn sự thanh thản khôn cùng của người dân đôi bờ. Riêng hũ tro cốt của anh Tráng được rước về quàn tạm tại gian chái lò đất của cụ Uy, đặt cạnh ngọn đèn dầu chong muộn để chờ đến đêm rằm cử hành đại lễ chiêu niệm.
Mấy ngày liền, bến sông ngập trong không khí thanh tĩnh. Cô Sen cùng mấy thím xóm lò cẩn thận phơi khô từng lượm rơm nếp vàng óng, sàng sảy những nia trấu mới thơm nồng mùi sữa lúa mùa thu.
Đến đêm rằm, vầng trăng vành vạnh như chiếc mâm bạc treo lơ lửng giữa nền trời quang đãng, tỏa ánh sáng vằng vặc xuống dòng sông lấp lánh sóng bạc. Gió thu buốt giá từ mặt nước thốc lên mang theo màn sương mỏng manh giăng kín bãi bồi. Giữa gò đất cao ven bến Lò Đất, một hương án mộc mạc đã được thiết lập. Cụ Uy đặt hũ tro cốt của anh Tráng ở vị trí trang trọng nhất, bên cạnh là tấm thẻ bài gỗ kiền khắc tên người quá cố cùng chiếc trâm tre hoa tiêu của con thuyền Vạn Lợi.
Ngay trước hương án, cỗ đầu rau ba chân bằng đất thó vàng hòa tro trấu nếp được cụ Uy kính cẩn an vị. Cụ ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu cói mòn, hai tay khẽ áp vào thân bếp đất mịn màng. Lồng ngực cụ phập phồng chậm rãi theo từng nhịp thở điều tức trầm sâu, thu nạp lấy sinh khí thuần hậu của đất trời châu thổ. Đôi mắt cụ sáng ngời vẻ quắc thước, bình thản nhìn vào thinh không u uất của bến nước.
Cụ vốc một nắm rơm nếp khô thả vào lòng cỗ đầu rau, đánh lửa bùi ngùi. Tia lửa đỏ bùng lên, bén nhanh vào từng cọng rơm vàng rực. Cụ cẩn trọng rắc từng vốc trấu mới mịn màng phủ lên trên. Ba cửa gió hình vòm cung của cỗ đầu rau lập tức đón ngọn gió sông, tạo nên luồng đối lưu thuần dương cuồn cuộn. Ngọn lửa Thổ hỏa bừng lên đỏ rực, tiếng trấu nổ lách tách giòn tan, tỏa ra hơi ấm nồng nàn và làn khói thơm ngào ngạt lan tỏa khắp bến bãi, nhẹ nhàng đẩy lùi màn sương lạnh cùng hàn khí đáy nước tích tụ đằng đẵng bảy năm trời.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…