Gói Hạt Hoa Bìm Cùng Anh Băng Qua Mùa Gió
Chương 10: Mạch Nước Dưới Rừng Cọ
Ông Tường siết nhẹ bàn tay vào nếp áo nâu của vợ, cất giọng trầm thấp chỉ đủ hai người nghe giữa tiếng gió xào xạc:
“Bà nó theo tôi. Đi lối rãnh hào ngược dốc, vừa khuất bóng phi cơ vừa tránh được mắt đất chuồi.”
Bà Diệu khẽ gật đầu, lau vội giọt nước mắt còn vương nơi khóe mi. Đứng trước sự điềm đạm lạ lùng của người bạn đời, nỗi thảng thốt sau hạn định ba ngày nghiệt ngã của đội trưởng Hợi bỗng lắng dịu xuống. Ông Tường rảo bước đi trước, đôi chân già nua thoăn thoắt bấm chặt vào từng mô đất thịt pha sỏi. Hơn một trăm năm nếm trải biến thiên dâu bể, đôi mắt ông đã quen nhìn thấu vân đất, mạch đá của những miền đồi bán sơn địa. Rừng cọ cổ thụ trên đỉnh Máng Nước từ bao đời nay vẫn sừng sững như một chiếc nón khổng lồ che chở cho xã Hương Xạ, rễ của chúng đan bện nghìn lớp dưới lòng đồi sâu, nơi mạch sống ngàn năm chưa từng cạn kiệt.
Màn sương sớm bảng lảng phủ trắng lối mòn. Càng lên cao, gió đồi thổi càng rát buốt, nhưng dưới vòm lá cọ xòe ô dày đặc, không khí lại ẩm sực mùi mùn mục và đất ngấu. Ông Tường dừng lại cạnh một gò mối chết đã phủ rêu xanh rì, đưa mắt dò xét từng khóm cây dại mọc men triền dốc.
“Bà nhìn xem,” ông Tường cúi người, trỏ ngọn gậy vào đám rêu nhung mọc sát một gốc cọ ba người ôm, “vùng đồi này bên ngoài nắng quái cháy sém, nhưng rêu nơi gốc cọ cổ này lại xanh mướt, chân cọ ngậm đầy bồ hóng ẩm. Đất giữ được nước bên dưới tầng rễ sâu thì mạch ngầm mới bốc hơi ngược lên mặt.”
Bà Diệu quỳ xuống, áp lòng bàn tay nứt nẻ vào lớp rêu mượt:
“Mát thật ông ạ! Dưới này lạnh buốt như có hầm đá!”
Ông Tường mỉm cười, mở chiếc túi dệt bằng sợi đay cũ kỹ lấy ra thanh tầm sét bằng gỗ dâu già bóng loáng. Đầu nhọn gọt rãnh xoắn ốc của thanh gỗ khẽ cọ vào kẽ nứt của vách đá ong chìm lấp dưới lớp lá mục. Ông nhắm hờ hai mắt, ghé tai áp sát sống gỗ dâu, lắng nghe nhịp thở sâu thẳm của lòng đồi. Những chấn động bom đạn mấy ngày qua tuy làm rạn nứt taluy bên ngoài, nhưng tầng đá mẹ sâu bên trong vòm cọ vẫn nguyên vẹn. Thanh gỗ dâu khẽ rung lên từng chập rất nhẹ khi đầu rãnh xoắn ốc chạm vào một vỉa sỏi ngậm nước.
“Mạch ngầm ở ngay đây,” ông Tường khẽ thì thầm, giọng rành rọt vẻ quả quyết. “Nó từ đỉnh núi Heo luồn qua kẽ đá mẹ, bị nghẽn lại ở vỉa đá ong này nên không thoát ra được suối Cốc. Một mạch nước ngọt lành, sâu chừng ba thước đất, nằm kín bưng dưới rặng cọ này thì phi cơ trinh sát có soi kính vạn hoa cũng chịu chết.”
Nói đoạn, ông Tường cầm con dao bài bên hông bẩy bật mảng đá tổ ong mục nát bên ngoài. Vừa lật tảng đá lên, một lỗ hổng đen ngòm lộ ra, từ bên trong phả vào mặt họ luồng khí ẩm lạnh thấu da thịt. Dưới đáy kẽ nứt, một dòng nước trong veo róc rách tuôn trào, luồn qua lớp sỏi cuội lấp lánh như bạc.
Bà Diệu há hốc miệng, ngực phập phồng vì kinh ngạc:
“Trời phật ơi… Nước! Đúng là có nước thật ông nhà ơi!”
“Chớ vội mừng,” ông Tường điềm đạm cản tay vợ khi bà toan vục nước. “Mạch này nằm cao hơn vườn ươm chừng ba mươi sải tay. Nếu khơi dòng cẩu thả, dòng chảy xối mạnh sẽ khoét rỗng sườn đồi, đất cát trôi tuột xuống bóp nghẹt kẽ rọ, chưa cứu được cây giống thì đất sạt đã chôn vùi cả đội.”
Ông Tường đứng thẳng dậy, đưa tay ước lượng khoảng cách từ mỏm đá xuống phía thung lũng, nơi khu vườn ươm đang nằm im lìm trong sương sớm. Ánh mắt ông sâu thẳm, rực lên vẻ tinh anh của người từng nắn dòng mở lối qua bao ghềnh thác thời loạn:
“Độ dốc từ đây xuống vườn ươm thoai thoải theo thế yên ngựa, cứ mười bước chân thì hạ xuống chừng nửa thước đất. Đây là thế dốc tự nhiên để nước tự chảy êm ru mà không xói bờ. Nhưng ta không thể làm máng tre nổi trên mặt đồi như anh Hợi tính toán.”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…