Gói Hạt Hoa Bìm Cùng Anh Băng Qua Mùa Gió
Chương 17: Mầm Xanh Bám Đất
Bà Diệu bước chậm lại, những ngón tay chai sần bám chặt lấy cánh tay rắn rỏi của chồng. Vạt áo nâu rách toạc để lộ vết sẹo cong vút như cánh cung, mép da thẫm lại như rễ cây khô ăn sâu vào bả vai gầy guộc. Nhận ra ánh mắt sững sờ của vợ đang dừng lại nơi da thịt mình, ông Tường khẽ kéo mép vải sờn che đi, bàn tay kia vỗ nhẹ lên mu bàn tay bà, giọng trầm đục xua tan nỗi bàng hoàng:
"Vết tích thời trai trẻ loạn lạc ấy mà, bà nó đừng bận lòng. Đất đồi trơn trượt, để tôi dìu bà bước qua chỗ sình lầy này đã."
Bà Diệu không hỏi thêm. Hơi ấm từ bàn tay ông truyền sang khiến lòng bà chùng xuống, nỗi khiếp đảm sau trận hụt chân xuống hố bùn xoáy dần tan biến. Hai mái đầu bạc chầm chậm men theo mép rãnh thoát nước, bước về phía gian nhà tranh vách nứa khi ráng đông vừa ửng hồng trên rặng cọ.
Nắng ấm xua tan giá buốt của đêm bão, rọi những vệt sáng vàng óng xuống triền đồi Máng Nước. Bà Diệu đứng bên mép rào dâm bụt, ngỡ ngàng phóng tầm mắt về phía sườn taluy vừa trải qua một đêm chao đảo. Hàng rọ mây mắt cáo chèn đá tổ ong vẫn đứng sừng sững, kết thành một bờ thành vững chãi ghìm chặt chân dốc. Không một chiếc rọ nào bị xô lệch, ba khối rọ ở sống trâu nhân tạo mà ông Tường xoay hướng đêm qua đã rẽ dòng bùn đỏ quạch sang lòng khe cạn an toàn, cứu trọn vẹn dải luống phía dưới.
Nhưng điều khiến tim bà khẽ rung lên lại nằm ở dải đất bùn nhão trải dài năm mươi mét từng nứt toác. Dưới làn nắng sớm, lớp bùn non sũng nước bỗng phủ một sắc xanh non tơ kỳ diệu. Hàng vạn hạt hoa bìm đồi gieo so le theo hình nanh sấu trước cơn giông dường như chỉ chờ trận mưa rào để bừng tỉnh. Từng mầm cây bé bỏng đội đất nhú lên, hai lá mầm tròn trịa xanh biếc xòe ra đón nắng. Những sợi rễ chùm li ti trắng muốt, mảnh như tơ tằm nhưng đan kết ken dày, bám riết vào lớp bùn dẻo và luồn lách qua từng kẽ đá tổ ong. Mặt đất đồi xốp mềm không còn trôi tuột, màng rễ non vừa nhú đã bắt đầu níu chặt tầng đất mặt trong vòng ôm bền bỉ.
"Bà con ơi, ra mà xem này!"
Tiếng reo của Đội trưởng Hợi phá tan không gian tĩnh mịch. Anh dẫn đầu đoàn cán bộ lâm trường bước vội lên dốc, chiếc áo bà ba ướt sũng bùn đất dán chặt vào lưng. Hợi cúi rạp người xuống bờ đất, ngón tay run run chạm khẽ vào mảng mầm non xanh mướt rồi ngẩng lên nhìn ông bà, giọng nghẹn lại vì thán phục:
"Kỳ tài thật! Đúng là lấy rọ mây giữ đá, lấy rễ bìm giữ đất! Đêm qua nếu không có cụ Tường ghìm sống trâu và dải bìm này giữ mảng đất mặt thì cả vạt taluy đã trút sạch xuống suối Cốc rồi. Mười vạn cây giống của ta nguyên vẹn cả, không dập nát một mầm nào!"
Mấy chị em công nhân đi sau cũng xúm lại, tiếng trầm trồ vang lên rộn rã bên triền đồi. Bà Diệu đưa mắt nhìn sang ông Tường. Người đàn ông của đời bà vẫn đứng lặng lẽ bên gốc cọ, bàn tay mân mê con dao bài, khóe mắt sâu hoắm nheo lại thành những nếp cười đôn hậu.
"Rễ cây rừng giữ đất ngàn đời nay vẫn thế," ông Tường chậm rãi nói, "Nhờ các chú, các cô đồng lòng đóng rọ chèn đá kịp cữ gió. Giờ bão tan rồi, đất còn đọng váng phù sa, phải khơi thông rãnh suối Cốc kẻo rễ non thông nhựa bị ngộp úng."

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…