Gói Hạt Hoa Bìm Cùng Anh Băng Qua Mùa Gió
Chương 6: Lệnh Khẩn Vườn Ươm
Bà Diệu vội buông chiếc khăn dù của con trai xuống mép gối rơm, cùng ông Tường bước nhanh ra khoảng sân đất đỏ. Gió ban mai thổi thốc từ triền đồi cọ qua vạt áo nâu còn đượm hơi ấm nước lá trầu không. Dưới chân dốc, bóng dáng rắn rỏi của đội trưởng Trần Văn Hợi đang lao ngược lên, hơi thở hổn hển làm rung cả lồng ngực phập phồng.
“Chú Hợi, có chuyện gì mà hớt hải thế?” Bà Diệu níu lấy thành cột hiên nứa, giọng thảng thốt.
Hợi dừng bước bên bậu cửa, vịn tay trái cụt ngón trỏ vào rui mè, mồ hôi túa ra ròng ròng trên gương mặt sạm đen vì nắng gió:
“Báo cáo cụ Tường, thưa bà Diệu… Máy bay địch vừa ném bom tọa độ trúng vạt đồi ven khe suối Cốc lúc rạng sáng! Đất đá sạt xuống làm rạn vỡ toạc đoạn đập đá tích nước phía trên rồi. Nhưng nguy khốn hơn cả là cháu vừa theo xe U-oát của Ty Lâm nghiệp Vĩnh Phú mang công văn hỏa tốc về lúc rạng sáng. Ty phát lệnh khẩn cấp toàn tỉnh!”
Ông Tường đỡ lấy cánh tay Hợi, kéo chiếc ghế đẩu tre ra sân rồi điềm đạm rót bát chè nụ ấm:
“Chú cứ bình tĩnh uống ngụm nước ấm đã. Việc quân cơ hệ trọng, có lệnh gì từ Ty thì chú nói rõ cho bà nhà tôi và bà con cùng liệu.”
Hợi bưng bát sành hoa lam, ngửa cổ uống một hơi cạn kiệt, gạt mồ hôi trán rồi rút từ túi áo bà ba bạc màu ra một tờ công văn đóng dấu đỏ tươi:
“Chiến trường miền Nam chuẩn bị mở đợt tiến công lớn, các đoàn xe vận tải quân sự cần gấp cây giống để ngụy trang trận địa và phủ xanh hầm hào chi viện tuyến lửa. Ty Lâm nghiệp giao chỉ tiêu cho Đội Hùng Sơn ta phải hoàn thành vượt mức mười vạn bầu cây phòng hộ, gồm ba vạn keo lá tràm, ba vạn trám trắng và bốn vạn thông nhựa. Thời hạn giao cây bị rút ngắn lại gần một tháng. Nếu không đẩy nhanh tiến độ ủ hạt, đóng bầu và giữ mầm xanh cho kịp đợt xe đón, chúng ta sẽ làm trễ chuyến hàng sống còn của mặt trận!”
Nghe đến hai tiếng “tuyến lửa”, lồng ngực bà Diệu thắt lại. Ký ức về người con trai ngã xuống nơi đường chín Nam Lào hai năm trước lại dội về nhức nhối. Chiếc trâm tre già trên búi tóc khẽ rung theo nhịp thở gấp gáp của bà. Mười vạn mầm non ấy không đơn thuần là chỉ tiêu gỗ rừng, mà là sự chở che cho xương máu của bao người lính trẻ ngoài tiền tuyến.
“Chú Hợi yên tâm,” bà Diệu cất giọng đanh lại, đôi mắt già nua ánh lên vẻ kiên nghị, “Bà con tổ ươm dẫu có thức trắng đêm đóng bầu cũng quyết không để trễ hẹn với bộ đội. Tôi ra suối Cốc ngay đây!”
Nói đoạn, bà với lấy chiếc nón lá mép khâu cước và đôi quang sọt đất mùn. Ông Tường lặng lẽ bước theo, trao cho bà con dao bài chuôi gỗ mun đã được lau chùi sáng bóng:
“Bà nó cầm theo dao phòng khi phải phạt cọc nứa ken giàn. Tôi sang xưởng nứa chẻ thêm lạt, lát nữa sẽ gùi nứa tép ra vườn hỗ trợ chị em.”
Bà Diệu gật đầu, ánh mắt trao cho chồng niềm tin cậy ấm áp rồi cùng Hợi thoăn thoắt bấm từng ngón chân trần xuống con dốc đất sỏi.
Vừa chạm chân tới khe suối Cốc, một cảnh tượng ngổn ngang đập vào mắt bà Diệu. Đoạn đập đá chắn nước phía thượng nguồn đã bị chấn động của bom xé toác một mảng lớn. Nước suối đục ngầu cuồn cuộn tràn qua khe nứt, tuôn xối xả xuống hẻm sâu thay vì chảy vào miệng máng. Đường máng tre nứa dẫn nước về luống ươm – vốn được chắp vá tạm bợ bằng những thân bương bổ đôi gác trên chạc cây – nay bị rung chấn làm xô lệch, hở mộng, rò rỉ khắp nơi. Nước chảy về các rãnh đất chỉ còn cầm chừng từng giọt đực giọt cái, ngấm chưa kịp ướt mặt sỏi đã biến mất tăm.
Trong khi đó, trời trung du vừa chớm sang cữ nắng gắt đầu hè. Mặt trời như chiếc mâm đồng nung đỏ treo lơ lửng trên đỉnh rừng cọ, trút từng luồng gió quái hầm hập xuống thung lũng. Đất thịt pha sỏi đá ong cằn cỗi của vùng bán sơn địa nhanh chóng bị hun nóng, rạn nứt nẻ thành những đường chân chim chằng chịt. Mấy luống ươm thông non vừa mới cắm rễ đã bắt đầu rũ ngọn, lá kim cong queo vì khát nước.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…