Lớp Đất Sét Niêm Phong Khố Thóc Vạch Mặt Án Mạng

Chương 14: Bóng Đen Ven Triền Sông

Hai cánh tay đen đúa của Lê Tiêu vẫn níu chặt lấy thanh gỗ lim nhà ngục, trán hắn tì sát vào chấn song, từng giọt nước mắt hòa lẫn bụi tro rỉ dài xuống khóe môi run rẩy. Lão Trọng dừng gót chân, khẽ nghiêng đầu nhìn kẻ tuần đinh đang quỳ rạp. Lời khai về cuốn sổ bọc da quét mép son đỏ chói như một nhát búa nện thẳng vào màng ký ức của lão già trăm tuổi.

Chiều ngày mười bốn tháng Ba dầm dề mưa bụi. Khi ấy, Đoàn Khắc Khiêm lén ghé chòi rơm bên sông Kinh Thầy, vạt áo chàm ướt sũng bùn lầy, gương mặt gầy gò hằn sâu nỗi bất an cùng cực. Khiêm đã ngồi đối diện lão bên bếp trấu, giọng khẽ khàng mà nghẹn đắng: “Cụ Trọng, thóc trong kho vơi đi cả một góc trời, sổ huyện đường đều là giấy trắng mực đen gian dối. Con chỉ tin thớ đất và tay cày của tiền nhân. Dẫu có thác, con cũng đem số hạt thực dâng lên trời xanh soi xét.” Lúc ra về, Khiêm còn siết chặt tay lão, dặn dò rằng nếu chẳng may có mệnh hệ nào, mọi gốc rễ đều gửi gắm nơi thân thuộc nhất.

“Đứng dậy đi, chú mày,” lão Trọng cất giọng khàn đục, ánh mắt trầm tĩnh soi rọi bóng tối nhà lao. “Ngươi đã nói ra sự thật thì trời đất khắc ghi nhận. Giữ lấy mạng mình, đừng để kẻ gian bịt nốt hơi thở.”

Chu Doãn Nghị lập tức bước tới, vung tay ra hiệu cho toán thị vệ thân tín canh giữ nghiêm ngặt cửa buồng giam Lê Tiêu, đoạn quay sang lão Trọng:

“Cung lão, cuốn sổ son đó là yết hầu của vụ án. Nếu Khiêm đã cất giấu nó trước khi kho bốc cháy, ngài có đoán được Khiêm để lại manh mối ở đâu chăng?”

Lão Trọng chắp hai bàn tay thô ráp sau lưng, khẽ lắc đầu:

“Lão nhớ lại chiều hôm mười bốn, Khiêm có gửi lại chòi rơm của lão một vài ống quyển và giấy nháp đong thóc cũ. Khiêm là kẻ cẩn trọng, không bao giờ đem trọn quả trứng bỏ chung một giỏ. Giờ Đỗ Cẩm đã bị quản thúc, hung thủ ắt cuống cuồng lùng sục mọi ngóc ngách. Lão phải cùng Nhược Thu về chòi rơm một chuyến.”

Khâm sai toan điều một tiểu đội thị vệ hộ tống, nhưng lão Trọng xua tay:

“Quan quân rầm rộ kéo đi chỉ khiến bầy sói trong bóng tối đánh hơi thấy động tĩnh. Cứ để thầy trò lão đi lối bờ đầm, vừa kín đáo vừa không kinh động tai mắt quanh huyện lỵ.”

Rời khỏi huyện đường khi bóng chiều đã đổ sẫm thành màn đêm mịt mùng, gió lạnh từ triền sông Kinh Thầy thốc qua rặng tre ngà rít lên từng hồi u uất. Lão Trọng chống thanh gậy gỗ mộc, bước chân chậm rãi nhưng vững chãi dẫm trên lối mòn trơn trượt. Nhược Thu khoác áo tơi cọ, tay xách chiếc giỏ tre nhỏ đựng mồi lửa, bước sát sau lưng lão.

Đầm lau sậy mùa giáp hạt cao lút đầu người, từng vạt ngọn bông bạc phơ nghiêng ngả dưới gió rét. Đi được chừng dặm rưỡi, khi tiếng chuông chùa từ mé sườn núi vọng lại từng hồi rời rạc, lão Trọng bỗng khựng lại. Lão khẽ hạ đầu gậy xuống lớp cỏ gà, tai lão giật nhẹ. Trong tiếng xào xạc của gió lùa qua thân sậy khô, lẫn vào đó là tiếng bì bõm rất khẽ, ngắt quãng nhưng bám riết không rời.

“Cụ Trọng, có chuyện gì thế ạ?” Nhược Thu ghé sát tai hỏi nhỏ.

Lão Trọng không quay đầu, giọng thì thào trôi qua kẽ răng:

“Có kẻ đi sau lưng ta. Hai đứa. Đi giày vải mũi nhọn, bước ngắn, hơi thở dồn.”

Lão đưa mắt liếc qua khe lá sậy. Cách chừng hai mươi bước chân trong bóng nhập nhèm, hai bóng đen khoác áo tơi bổi lầm lũi bám theo. Ánh chớp xa xa nơi chân trời vừa lóe lên đã phản chiếu ánh thép lạnh tanh của lưỡi đoản đao giắt bên hông một tên. Rõ ràng bọn chúng đã rình rập từ lúc thầy trò rời khỏi ngục tối.

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Lạc Kiều
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Lạc Kiều

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…