Lớp Đất Sét Niêm Phong Khố Thóc Vạch Mặt Án Mạng
Chương 16: Mưu Già Phá Đầm Sậy
Mặt nước đen ngòm ven rặng bần dần phẳng lặng trở lại sau khi con thuyền nan của lũ gian nhân khuất bóng, chỉ còn tiếng gió lùa qua đầm sậy rít lên từng hồi buốt lạnh.
Dưới rãnh nước ngập ngang hông, Cung Hữu Trọng khẽ cựa mình. Bùn phù sa bám dính lấy da thịt buốt cóng như kim châm. Lão chống hai tay xuống bờ đất trơn trượt, cắn răng nén cơn đau thắt nơi mạng sườn và khớp gối vừa va phải gốc bần. Bằng sự dẻo dai tích tụ qua hơn một thế kỷ dầm mưa dãi nắng, lão gượng đứng dậy, bước từng bước nặng nhọc lên bờ cỏ rậm.
Đầu gối lão rách toạc một mảng da, máu đỏ rỉ lẫn trong bùn nhão. Lão Trọng liền cúi xuống bứt một nắm lá cỏ mực cùng đọt cây bần non mọc hoang bên mé nước, vò nát trong lòng bàn tay rồi đắp chặt vào vết thương để cầm máu. Vị chát mặn của lá thuốc xộc lên xua bớt cơn tê dại. Nhặt lại cây gậy tre bị văng nơi bụi cỏ, lão ngước nhìn đống tro tàn của căn chòi rơm rạ đang bốc khói mờ mịt.
Mảnh giấy điều chứa câu đố chữ Nôm của Đoàn Khắc Khiêm vẫn còn nguyên vẹn nơi dải thắt lưng gai bọc quanh bụng. Nhưng tính mạng của Nhược Thu đang treo trên đầu sợi tóc. Lời đe dọa man rợ dìm chết đệ tử xuống đáy sông Chanh vẫn văng vẳng bên tai lão.
Nếu lúc này lặn lội ba dặm đường đêm về huyện đường báo cho Khâm sai Chu Doãn Nghị, quan quân khua chiêng gióng trống kéo đến đầm lầy tất sẽ đánh động lũ cướp. Khi ấy, bè lũ Trần Bá Hộ cùng đường ắt thủ tiêu con tin ngay lập tức. Cứu người như cứu hỏa, phải dùng đến những con người hiểu từng ngóc ngách của dòng sông này hơn cả lính triều đình.
Lão Trọng bặm môi, chống gậy men theo con đê đất phụ dẫn về xóm vạn chài nghèo khổ ven ngã ba sông Kinh Thầy. Sau nửa tuần hương lách qua bãi lau, lão dừng trước cửa căn nhà vách đất lợp mái rạ xiêu vẹo của bác chài Ba Cát – người từng được lão bốc thuốc cứu sống đứa con trai nhỏ trong trận dịch thổ tả mùa lũ năm ngoái.
Nghe tiếng gõ cửa gấp gáp, Ba Cát hé liếp nhìn ra. Dưới ánh trăng mờ, thấy bóng dáng cụ già bách niên cả người lấm lem bùn đất, áo rách tả tơi, Ba Cát thất kinh mở toang cửa:
“Trời đất ơi, cụ Trọng! Sao người ra nông nỗi này?”
“Khẽ chứ, chú mày!” Lão Trọng khàn giọng, nắm lấy cánh tay rắn rỏi của người phu chài. “Bè lũ nhà Bá hộ vừa đốt chòi rơm, bắt thằng Thu đem về bến ngầm ven sông Chanh tra khảo. Già này cần mấy chiếc thuyền lướt êm và những tay chèo cừ khôi nhất xóm để cứu nó trước khi trời rạng.”
Nghe đến việc thằng Thu – đứa trẻ chất phác vẫn thường gánh thóc đỡ đần bà con xóm bãi – bị bắt, Ba Cát nghiến răng ken két:
“Lũ cường hào quen thói ức hiếp! Cụ yên tâm, ân tình của cụ với dân vạn chài chúng con sâu như đáy sông. Con sang gọi anh em ngay!”
Chỉ trong chốc lát, bốn người phu chèo đò lực lưỡng, da ngăm đen bóng đã tề tựu bên bến cạn. Ba chiếc thuyền nan nhỏ nhẹ tênh, chuyên dùng luồn lách giăng lưới nơi đầm lầy, lập tức được gỡ dây neo. Không một tiếng đuốc rực sáng, không một tiếng kim loại khua vang, mọi thứ diễn ra âm thầm như bầy rái cá đêm.
Lão Trọng ngồi ở mũi thuyền của Ba Cát, đôi mắt già nua chăm chú quan sát mép nước phù sa dâng lên chân cọc tre ven bờ. Lão hạ giọng chỉ dẫn:
“Giờ này đang cấn con nước ròng. Dòng chính sông Chanh chảy xiết, nhưng dưới lòng lạch ngầm xuyên qua bãi sậy có một dải nước quẩn êm ru. Cứ men theo luồng bùn non chảy ngược mà bơi, thuyền sẽ lướt nhanh gấp đôi mà không tạo tiếng sóng vỗ be mạn.”
Ba chiếc thuyền nan nhẹ lướt xé màng sương ẩm. Nhờ kinh nghiệm thông tỏ từng lạch nước của lão Trọng, đoàn thuyền chỉ mất chưa đầy một tuần trà đã áp sát khúc sông rậm rạp nơi có bến ngầm nhà Trần Bá Hộ.
Ẩn hiện sau rặng bần già là một chiếc thuyền gỗ lớn đáy nông đang neo sát bãi cọc nhọn. Trên sàn thuyền giặc, một chòi canh lợp lá phát ra ánh đèn dầu leo lét. Đám lâu la của tên hộ pháp vừa uống rượu mừng công xong, tiếng cười nói hô hố dần tắt, thay vào đó là tiếng ngáy rền như sấm. Nhược Thu bị trói giật cánh khuỷu vào cột buồm giữa khoang, đầu gục xuống vì kiệt sức, vết chém ở vai trái máu đã khô cong đen sẫm.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…