Lửa Lò Muối Hầm Nồi Đất Ấm Vạn Chân Đồi
Chương 14: Khui Vòm Đón Ngọc
Tiếng nổ đanh gọn tựa pháo lệnh vừa dứt, khói trắng cuộn lẫn bụi sét còn mù mịt nơi họng lò tả. Tim Kiều Đại Hải nảy lên tận cổ họng. Chàng vứt phăng xẻng than, lao bổ về phía vòm lò con, hai bàn tay thô ráp run rẩy định gạt lớp tro nóng đang bốc khói hầm hập. Nỗi ám ảnh về những chiếc niêu đất nứt toác thuở mới vào nghề bỗng chốc dội về như thác lũ.
“Đại Hải, dừng tay lại!”
Một bàn tay gầy guộc nhưng rắn rỏi đặt lên vai chàng. Cụ Kiều Thế Phong thong thả bước tới, chiếc gậy tre già gõ nhẹ xuống nền đất đồi Ráng một tiếng “cộc” khô khốc. Khói bụi tan dần theo làn gió bấc, để lộ mảng vách đất lò tả vẫn vững như bàn thạch, chỉ có lớp bùn trát ngoài họng gió hé mở một khe nứt nhỏ bằng ngón tay.
Đại Hải thở dốc, mắt mở trừng trừng:
“Cụ cố ơi... có phải niêu sét bên trong... nứt vỡ rồi không cụ? Khói phụt ra mạnh quá!”
Cụ Phong cúi người, chòm râu bạc khẽ phất qua vách lò đang tỏa nhiệt hừng hực. Cụ ghé mắt nhìn qua khe nứt, hít sâu luồng hơi ấm phả ra, rồi bất giác bật cười giòn tan. Đôi mắt bách niên lấp lánh niềm vui sướng:
“Cháu đừng hoảng! Không vỡ, không nứt một mảy may nào đâu. Đây là tiếng nổ om của mảng niêm phong tro rơm nếp đấy thôi! Hạt muối mộc biển sâu sau bảy ngày đêm ngậm trọn nhiệt than dẻ đã tích đủ tinh khí đất trời, nở bung xốp đến cực độ. Hơi nước ót cuối cùng đội tung lớp niêm phong, xé gió thoát ra ngoài, báo hiệu mẻ nung đã chín tới đỉnh. Lửa thế là đượm, đất thế là thuần!”
Lời cụ cố tựa như dòng suối ngọt tưới mát tâm can đang bốc hỏa của Đại Hải. Chàng buông thõng hai tay, thở phào nhẹ nhõm, lúc này mới nhận ra toàn thân đẫm ướt mồ hôi lạnh. Hàng chục tráng đinh và quan binh đứng quanh cũng đồng loạt ồ lên vui mừng.
Theo lời cụ Phong căn dặn, Đại Hải cùng phường thợ lập tức dùng bùn ướt trộn tro mịn trát kín toàn bộ các cửa gió và miệng họng lò. Cụm ba lò vòm bước vào giai đoạn ủ tro giữ ấm trọn vẹn một ngày một đêm, để nhiệt lượng rút từ từ vào từng thớ đất sét trắng, giúp hạt muối định hình độ xốp mịn.
Thời khắc mong mỏi rốt cuộc cũng đến.
Sang buổi sớm hôm sau, trời quang mây tạnh, nắng đông hanh vàng rải nhẹ trên triền đồi Ráng. Trước cửa cụm ba lò vòm nay đã nguội bớt, một hương thơm thanh khiết thoang thoảng bay khắp không gian. Trần Vũ Lâm dẫn theo toán quân sĩ tề tựu trang nghiêm bên cạnh hàng trăm bà con vạn chài Tuyết Diêm.
Cụ Kiều Thế Phong mặc tấm áo vải thô màu chàm sạch sẽ, chậm rãi bước lên trước hương án lập vội bên sườn đồi. Cụ nâng ba nén nhang trầm, vái lạy ba vái về phía biển Đông, rồi xoay người hướng lên đỉnh núi Ráng, giọng trầm hùng vang vọng:
“Đội ơn trời đất chở che, sông biển ban cho hạt ngọc mặn mòi, đồi Ráng ban cho nắm đất sét trắng tinh khôi, rừng thiêng hiến củi dẻ giữ lửa. Cúi xin tiên tổ làng muối chứng giám tấc lòng thơm thảo, phù hộ mẻ muối hầm cứu vớt vạn sinh linh chốn trần gian.”
Dứt lời, cụ cắm nhang vào lư sành, rồi quay sang nhìn Đại Hải. Cụ cầm lấy chiếc búa gõ bằng gỗ dẻ già nhẵn bóng, trịnh trọng trao vào hai bàn tay chai sần của chắt cố:
“Đại Hải, cháu là người gánh đất, nặn niêu, canh củi giữ lò suốt những ngày qua. Giờ khắc này, cháu hãy thay mặt dân làng và tướng sĩ, khui vòm đón ngọc!”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…