Lửa Lò Muối Hầm Nồi Đất Ấm Vạn Chân Đồi
Chương 7: Bàn Xoay Nghìn Chiếc Niêu
Tiếng chân đạp vội trên thảm lá dẻ khô vừa dội vào tai, Kiều Đại Hải đã bật phắt người khỏi đáy hố sâu. Chàng ném phăng cán cuốc xuống đất, sải bước dài phóng vọt lên bờ dốc, hai mắt quắc lên nhìn trừng trừng về phía rặng cây rậm rạp sau lưng cụ cố.
“Kẻ nào lén lút ở đó? Đứng lại!”
Tiếng thét vang như sấm dậy của Đại Hải xé toang không gian tĩnh mịch của cánh rừng chiều. Trong bụi cây gai góc, một bóng đen khoác áo chẽn nâu loạng choạng trượt chân ngã dúi dụi, nhưng chớp mắt đã lồm cồm bò dậy, cắm đầu cắm cổ lao thục mạng xuống con đường mòn dẫn về vụng biển. Đại Hải toan đuổi theo tóm cổ thì bàn tay gầy guộc nhưng ấm áp của cụ Kiều Thế Phong đã khẽ đặt lên vai chàng.
“Đại Hải, dừng lại đi con.” Cụ Phong lắc đầu, ánh mắt đăm chiêu nhìn theo bóng kẻ gian vừa lẩn khuất sau rặng cây. “Chỉ là một tên do thám của thương quán Diêm Thịnh phái lên dò la động tĩnh thôi. Kẻ thù trong bóng tối, chúng ta ở ngoài sáng. Việc khẩn cấp của vạn chài lúc này là làm cho xong niêu đất đắp xong lò nung để cứu mạng người, đừng ham đuổi mà trúng kế điệu hổ ly sơn.”
Đại Hải thở dốc, hai nắm đấm siết chặt kêu rắc rắc rồi dần buông lỏng:
“Cụ cố dạy chí phải. Đám tay sai của lão Đỗ Bá Giàu thấy chúng ta tìm được mạch sét trắng ắt đã bắt đầu run sợ rồi.”
Sáng hôm sau, khi sương mù bảng lảng còn giăng trắng xóa triền đồi Ráng, khu đất trống rộng nửa mẫu đã biến thành một bãi thợ nhộn nhịp chưa từng thấy. Tiếng đục đẽo gỗ vang lách cách, tiếng cười nói râm ran át cả tiếng gió bấc gầm gào. Theo chỉ dẫn cặn kẽ của cụ Phong, tráng đinh vạn chài cùng quân đồn trú đã đẵn những cây gỗ dẻ gai chắc nịch, chôn cột dựng cọc, lắp ráp thành hai dãy bàn xoay bằng gỗ mít nhẵn thín. Từng đống đất sét trắng sau khi đào về được đám thợ trẻ dùng vồ gỗ nện tơi, tưới nước ngầm nhào nặn kỹ lưỡng đến khi dẻo quánh, mịn màng như bột bánh giầy.
Đại Hải ngồi trước chiếc bàn xoay lớn nhất ở đầu lán. Chàng hào hứng vốc một tảng đất sét trắng tròn trịa đặt ngay ngắn vào tâm bàn gỗ, chân đạp mạnh vào bàn đạp phía dưới. Bàn xoay bắt đầu quay tít, phát ra những tiếng ro ro êm tai.
Nghĩ tới cảnh hàng ngàn đồng bào và tướng sĩ dưới đồn binh đang rên xiết vì lở loét hoại tử, lòng Đại Hải như có lửa đốt. Chàng dồn hết sức vào đôi bàn tay gân guốc, vừa ghì mạnh ngón cái tạo lòng sâu vừa miết hai bàn tay kéo thon thành niêu lên cao. Đôi bàn tay vốn quen kéo lưới giật dây thừng ngàn cân của chàng dùng lực quá thô bạo. Chỉ sau vài vòng quay gấp gáp, chiếc niêu đất đã thành hình nhưng méo mó, miệng loe không đều.
Đại Hải khẽ gạt mồ hôi trán, cẩn thận bưng chiếc niêu đất non đặt ra chiếc nong tre đem phơi dưới luồng gió bấc ráo hoảnh. Nào ngờ, chỉ chừng một tuần hương sau, dưới sức hút khô khốc của ngọn gió lạnh đầu đông, chiếc niêu đất non bỗng phát ra tiếng “tách” đanh gọn. Đáy niêu mỏng dính toác làm đôi, thân niêu nứt rạn từng kẽ dài như chân chim.
Đại Hải chết lặng nhìn mảnh đất vỡ vụn trên nong tre. Nỗi mặc cảm tự ti thuở trước bất chợt ùa về bóp nghẹt lồng ngực chàng trai trẻ. Xưa kia, cũng vì nóng vội mà chàng từng đánh vỡ không biết bao nhiêu mẻ niêu đất của ông cha.
“Cụ cố ơi…” Đại Hải cúi gằm mặt, giọng nghẹn lại. “Cháu vụng về quá, tay chân chỉ quen kéo lưới xách bồ đất nặng, không sao nặn nổi chiếc niêu cho ra hồn.”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…