Mẻ Đường Phèn Trong Lắng Sóng Gia Tộc
Chương 19: Đêm lạnh giữ than
Gió sông Trà Khúc thốc từng cơn dữ dội qua rặng tre ngà, quất ràn rạt vào vách nứa chái lò Cảnh Ký. Luồng khí buốt giá từ cửa biển Đại Cổ Lũy tràn về cuốn theo tiếng sấm ầm ì đằng xa, mang theo hơi sương lạnh phả thẳng vào mặt Chu Vĩnh Triết. Đứng trước buồng ủ lu sành, Triết rùng mình, vội đưa mu bàn tay áp lên mặt vách đất trộn rơm nếp. Lớp bùn non trét then cửa lim vừa se lại ban chiều nay đã khô khốc dưới ngọn gió dữ, và điều khiến tim Triết thắt lại là vách đất vốn đang ấm ran nay nguội dần. Hơi lạnh sắt se đang len lỏi gặm nhấm gian buồng kín. Cố từng dặn, đường phèn muốn bám mạng chỉ kết ngọc thì chín ngày chín đêm trong buồng ủ phải giữ ấm đều như da thịt đứa trẻ lúc ngủ say; nếu để gió chướng làm lạnh đột ngột, nước mật sẽ sượng, hạt đường đứt gãy không thể kết ngọc mà hóa thành thứ mật rỉ vô dụng.
— Chú Ba! Gió chướng tràn về sớm quá, vách buồng ủ đang tụt hơi nóng rồi! — Triết quay ngoắt lại, thảng thốt gọi.
Chu Thúc Khiêm đang dọn dẹp dưới hiên, nghe tiếng gọi liền biến sắc. Gã quăng vội chiếc xẻng sắt, tất tả chạy nhào tới, run rẩy áp hai bàn tay thô ráp lên then cửa gỗ lim. Cảm nhận rõ luồng khí lạnh luồn qua khe liếp, Khiêm hoảng hốt:
— Chết dở... Cơn rét này độc quá! Phải che phên rơm nếp ngay thôi Triết ơi, chậm một khắc là hỏng hết mẻ đường của tổ tông!
Không chần chừ, hai chú cháu lập tức lao vào hành động giữa đêm gió lộng. Triết chạy ra kho sau, vác từng chồng phên đan bằng rơm nếp mùa trước dày cộp — thứ vật liệu chuyên dùng chống rét cho nương mía. Chú Ba Khiêm ôm cọc tre cùng chiếc vồ gỗ, thoăn thoắt cắm cọc chèn chặt mép vách phía đông bắc hứng trọn ngọn gió sông Trà buốt giá. Gió bấc rít từng hồi ran rát bên tai, nhưng hai chú cháu không ai than thở nửa lời. Đôi tay họ phối hợp nhịp nhàng: Khiêm ghìm chặt đầu phên nứa, Triết bốc từng tảng bùn non trộn rơm mịn đắp dày kín quanh chân tường, miết chặt từng mép liếp không để hở dù chỉ một kẽ nhỏ.
Che chắn xong mặt ngoài, họ quay sang kiểm tra rãnh ngầm dẫn nhiệt dưới nền buồng ủ. Do gió lạnh ùa tới bất ngờ, hai chậu than cũ chỉ còn leo lét tàn tro xám, hơi ấm phả ra yếu ớt.
— Cháu đi chẻ thêm củi mít gộc, chú Ba gom than giúp cháu! — Triết giục giã.
— Cứ để chú gắp than đỏ vào rãnh ngầm! Cháu xốc lại củi nỏ, nhóm bùng lên chậu phụ! — Khiêm đáp dứt khoát.
Triết thoăn thoắt xếp những thanh củi mít già nỏ ba nắng vào chiếc lò phụ. Gỗ mít khi bén than chỉ âm ỉ tỏa nhiệt đằm sâu, tuyệt nhiên không nổ lách tách, không khói muội đen đúa và không để lại mùi khét nồng, mà chỉ thoang thoảng mùi gỗ nướng êm dịu. Từng hòn than đỏ rực như đá son được Triết gắp cẩn thận vào chậu sành da lươn dày dặn.
Ánh than hồng soi rõ thân hình gầy guộc của chú Ba Khiêm. Chẳng màng tìm giẻ lót, gã đưa đôi bàn tay trần bưng lấy vành chậu sành hực lửa, cẩn trọng hạ vào miệng rãnh ngầm dẫn nhiệt. Nhìn theo bóng chú Ba, Triết bất chợt thấy cổ họng nghẹn ắng. Dưới ánh lửa, hai bàn tay người chú họ đã nổi lên những nốt phồng rộp đỏ ửng vì than nóng, mu bàn tay lấm lem bùn đất và tàn tro xám. Thế nhưng, trên gương mặt gầy gò của Khiêm, Triết không còn thấy nét bồn chồn, lấm lét hay vẻ tỵ hiềm của những ngày trước. Ánh mắt Khiêm giờ đây sáng ngời lên vẻ thanh thản, thuần hậu và kiên định của người thợ lành nghề đang dốc trọn sinh mạng chuộc lại lỗi lầm với tổ tiên. Khiêm cúi người sát miệng rãnh đất, nhẹ nhàng phe phẩy quạt nan đưa luồng hơi ấm luồn sâu vào buồng ủ. Mọi vết thương lòng, mọi nỗi oán hờn trong lòng Triết tan biến tự bao giờ, nhường chỗ cho tình thâm ruột thịt sâu nặng.
Gần nửa đêm, trời càng thêm giá buốt. Sương muối bắt đầu giăng mờ mịt trên ngọn tre ngà, phủ một lớp lạnh căm căm lên mái ngói âm dương của lò Cảnh Ký. Tiếng then cửa ngách kẽo kẹt mở ra, bà cô Chu Thị Lành bước tới chái lò, theo sau là hai gia nhân bưng chiếc mâm nan bốc khói nghi ngút.
— Hai chú cháu nghỉ tay chút đã, vào đây húp bát cháo nóng cho ấm bụng kẻo cảm lạnh! — Giọng bà Lành dịu dàng xua bớt cái lạnh thấu xương.
Bà đặt mâm lên chiếc chõng tre kê nơi góc chái kín gió. Trên mâm là những bát cháo hoa gạo mới trắng ngần nấu loãng, điểm chút hành hoa thơm nức cùng đĩa cá bống sông Trà kho tiêu cay nồng sánh đậm, bên cạnh là siêu nước chè xanh om lá tươi bốc khói nghi ngút.
Bà Lành nhìn đôi bàn tay phồng rộp, lấm lem tro than của Khiêm, khẽ thở dài xót xa rồi rút vạt khăn rằn lau vệt bùn khô trên má gã:
— Tội nghiệp, tay thằng Khiêm rộp hết cả rồi kìa. Ăn đi con, có thực mới vực được đạo. Cả họ Chu ta trông cậy vào hai chú cháu cả đấy.
Khiêm cúi đầu, bưng bát cháo nóng bằng hai bàn tay còn run rẩy vì sức nóng của than, mắt rơm rớm:
— Dạ... cháu cảm ơn cô Hai. Cháu không mệt đâu, mẻ đường này không thành ngọc thì cháu chẳng còn mặt mũi nào sống trên đời.
Triết cũng đỡ lấy bát cháo từ tay bà cô, múc một thìa cháo cá bống thơm lựng đưa lên miệng. Vị tiêu cay nồng lan tỏa khắp lồng ngực, xua tan đi từng cơn ớn lạnh nơi thắt lưng. Ba cô cháu và mấy người gia nhân quây quần quanh manh chiếu rơm bên ngọn đèn dầu le lói, chia nhau từng ngụm chè xanh chát ngọt. Trong gian chái bếp nồng đượm khói củi mít, hơi ấm gia đình lan tỏa khiến Triết cảm thấy đêm đông giá lạnh dường như chẳng còn đáng sợ nữa.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…