Thùng Đấu Gỗ Dâu Soi Thấu Dạ Người
Chương 15: Đêm lạnh thử thớ dâu
Bóng lưng gồ ghề của Trịnh Cường cùng đám gia nhân vừa khuất hẳn sau cổng tre, gian tiền tế họ Lại mới trút ra một hơi thở dài thườn thượt. Cụ Lại Bá Khiêm chống gậy trúc ngà đứng bên mé sập, nhìn quanh những gương mặt bàng hoàng, lo âu của đám con cháu hai chi họ. Cụ cất giọng khoan thai, từng lời chậm rãi xua tan vẻ kinh sợ đang phủ trùm:
“Trời chưa sập, đất hương hỏa tiên tổ để lại cũng chưa ai dời đi được. Các chú, các bác cứ lui về lo liệu việc nhà cho chu tất, giữ lòng vững dạ. Đúng ngọ ngày mai hẵng hay.”
Người trong họ nghe cụ răn, dẫu trong lòng còn trăm mối ngổn ngang nhưng cũng lục tục vái lạy rồi tản mác ra về. Quý Thao cúi gằm mặt lủi nhanh như chiếc bóng lẩn vào sương chiều, không dám ngoái đầu nhìn lại thềm từ đường.
Màn đêm buông xuống bến sông Chu nhanh như một cái chớp mắt. Tiết cuối đông buốt giá, sương muối kết thành từng vệt trắng xoá bám chặt trên những ngọn tre uốn cong đầu ngõ làng Vọng Khê. Đêm mười bốn tháng Chạp, cái rét như kim châm len lỏi qua từng khe liếp, gió bấc thổi hun hút ngoài bờ bãi khiến rặng dâu già run rẩy từng chập.
Trong gian từ đường trang nghiêm nghi ngút khói trầm, cụ Bá Khiêm châm ngọn nến hoa thị cắm trên chân đồng mắt cua. Ánh lửa bập bùng soi rõ hàng cột gỗ lim lên nước bóng loáng và những bức hoành phi cổ kính. Cụ chắp hai tay gầy guộc trước ngực, cùng Lại Hữu Tĩnh kính cẩn quỳ trước hương án làm lễ cáo yết tiên tổ. Khấn xong ba tuần hương, cụ đứng dậy, chỉnh lại vạt áo kép sẫm màu, nơi tờ giấy bản điểm chỉ cùng khế ước ngầm của Quý Thao vẫn nằm yên phẳng lặng.
“Hữu Tĩnh, cháu thắp thêm ngọn đèn dầu lạc bên án thư rồi ra gian hậu kho bưng ba thúng thóc mẫu vào đây cho ta.”
Hữu Tĩnh vội vã dạ ran, một lát sau đã gánh vào ba chiếc thúng đan bằng cật tre già, đặt thẳng hàng trước sập gụ. Cụ Khiêm bước lại gần, khom lưng luồn bàn tay khô ráp vào từng thúng lúa. Thúng thứ nhất là thóc mẩy của tá điền nộp tô, hạt đều tăm tắp nhưng còn vương chút bụi rơm vàng; thúng thứ hai là thóc trong kho họ dùng để phát chẩn cho bà con nghèo vượt qua mùa giáp hạt; thúng thứ ba là lúa giống thuần chủng do chính tay chi trưởng hong phơi cẩn thận trên sân gạch ba nắng ròng rẽ.
Cụ bốc một vốc thóc giống đưa lên ngang mũi ngửi nhẹ mùi nắng rơm thơm nồng, rồi nghiêng tai lắng nghe tiếng hạt lúa trượt qua kẽ ngón tay rơi lách tách trở lại lòng thúng. Đôi mắt già nua của người thợ cả trăm tuổi ánh lên vẻ tinh tường kỳ lạ:
“Muốn đong thóc cho người đời tâm phục khẩu phục, trước hết mắt người thợ phải nhìn ra độ ẩm, tay người cầm đấu phải biết rõ cái nặng, cái nhẹ của từng mảy trấu. Hạt thóc vụ này phơi già nắng, mẩy hạt, độ ẩm vừa khít thì sức nặng trong đấu mới chuẩn mực. Kẻ gian xảo chỉ mong dùng cỗ đấu hai đáy bòn rút địa tô, bớt xén cứu tế, nào ngờ quy chuẩn của gỗ dâu già và thóc khô vốn có giời xanh định sẵn.”
Cụ Khiêm với tay bưng cỗ Đấu Dâu Gia Bảo trăm năm đặt lên chiếc bàn đá thấp. Dưới ánh nến bập bùng, màu gỗ dâu ngâm bùn sấy khói hiện lên sắc nâu sẫm trầm mặc, mép thành đấu vuông vức không hề gợn một vết răng cưa, bên sườn nổi rõ triện son của quan phủ cùng hàng chữ khắc chìm: “Đấu dâu định dạ, que gạt phẳng tâm”.
Cụ lấy chiếc gáo dừa múc thóc từ thúng lúa tá điền, từ tốn trút từng bát lúa vào lòng đấu dâu tổ truyền.
“Rào... roong!”
Tiếng hạt thóc khô va vào lòng gỗ dâu già phát ra một âm thanh vang ngân, đanh giòn tựa như tiếng khánh đồng gõ nhịp giữa đêm vắng. Âm vang ấy trong trẻo, khoáng đạt, xua tan đi cái lạnh lẽo thấu xương đang bủa vây gian từ đường. Khi hạt lúa đầy vun quá miệng đấu, cụ Khiêm nhấc thanh gạt đồng gia truyền, khẽ nghiêng cạnh vát phẳng lướt nhẹ một đường dứt khoát ngang miệng gỗ. Những hạt thóc thừa rơi rào rào xuống mép nong, mặt đấu dâu hiện ra phẳng lì như một tấm gương soi, không thừa không thiếu dẫu chỉ nửa hạt.

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…