Thùng Đấu Gỗ Dâu Soi Thấu Dạ Người

Chương 5: Lời cảnh tỉnh bên mâm trà

Đầu ngón tay chai sần của cụ Lại Bá Khiêm khẽ lần qua gờ mộng mang cá giấu dưới lớp dầu trẩu chưa ngấu. Đường ghép nông sâu xảo quyệt ấy như một vết cứa ngầm vào thanh danh ba đời làm thợ mộc của họ Lại. Cụ khẽ thở dài, hơi thở phả vào màn sương chiều bảng lảng rồi tan biến. Cụ không đập vỡ cỗ thùng đấu giả, cũng chẳng cất tiếng gọi người làm kinh động xóm ngõ. Lão già chín mươi hai tuổi chỉ chậm rãi đặt chiếc đấu trở lại bàn đá, phủ tấm khăn vải nâu lên rồi chống gậy trúc ngà bước từng bước vững chãi vào gian chính từ đường.

Gió lạnh đầu đông rít từng hồi qua khe liếp, thổi ngọn đèn dầu lạc trên chiếc bàn trà bằng gỗ mun lay lắt, hắt bóng ba người lên vách vôi loang lổ rêu phong. Cụ Khiêm ngồi xếp bằng ngay ngắn ở vị trí chủ tọa trên chiếc chiếu cói dệt thô. Bên tả là Lại Hữu Tĩnh với gương mặt chữ điền sạm nắng đang ngồi ngay ngắn, hai tay đặt trên gối. Bên hữu, Lại Quý Thao ngồi nép vào mép phản, đôi mắt xếch không ngừng liếc nhìn đĩa dầu lạc chập chờn, ngón tay thon dài vô thức vân vê gấu áo dài chắp vá tươm tất.

Khói trà mạn nghi ngút bốc lên từ chiếc ấm đất nung da chu, mang theo hương thơm chát ngọt mộc mạc lan tỏa khắp gian nhà tĩnh mịch. Cụ Khiêm nâng chén trà nóng bằng cả hai tay, nhấp một ngụm nhỏ để làm ấm cuống họng già nua rồi thong thả đặt chén xuống mâm gỗ. Ánh mắt đượm vẻ từ hòa mà sâu thẳm như giếng nước đầu làng của cụ dừng lại trên gương mặt hai người chắt.

“Đêm nay gió bấc về mạnh, sương muối giăng trắng bãi dâu ngoài bến sông,” cụ Khiêm cất giọng trầm ấm, từng tiếng khoan thai rơi vào khoảng không yên ắng. “Uống chén trà nóng cho ấm bụng rồi hãy bàn chuyện kho tàng. Đời người ta qua bao cơn bĩ cực, cái lạnh của trời đất chẳng đáng sợ bằng cái lạnh len lỏi trong lòng dạ người cùng một họ.”

Hữu Tĩnh vội nâng chén trà dâng lên ngang mày, giọng kính cẩn:

“Bẩm Cụ cố, đêm hôm khuya khoắt Cụ còn vì việc họ mà lao tâm, chúng chắt muôn phần bất hiếu.”

Quý Thao cũng vội vã bưng chén nước, nhưng bàn tay hắn khẽ run rẩy làm vài giọt nước trà sóng ra mặt mâm gỗ mun. Hắn vội vàng hạ giọng thưa:

“Dạ... bẩm Cụ cố, chuyện lúa má ban chiều thím Thược... chắt cũng chỉ vì lo cho kho lúa của họ đủ đầy trước mùa giáp hạt. Chắt trẻ người non dạ, trông nom thợ thuyền chưa tròn xoe vuông vắn...”

Cụ Khiêm không ngắt lời, chỉ im lặng nhìn Quý Thao một hồi lâu. Cái nhìn điềm đạm, không giận dữ, không trách móc nhưng lại tựa như một tấm gương trong vắt soi thấu tận đáy sâu tâm can kẻ đối diện. Quý Thao ngượng ngùng cúi gằm mặt xuống, mồ hôi rịn ra lấm tấm trên vầng trán trơn láng dù ngoài hiên gió lùa buốt giá.

Cụ Khiêm khẽ với tay, nhấc thanh gạt đồng gia truyền đặt giữa mâm trà. Dưới ánh sáng vàng nhạt của bấc dầu, mặt đồng ánh lên sắc đỏ trầm ấm, hai mép gọt vát thẳng tắp không gợn một vết mẻ.

“Các chắt có nhớ cội nguồn của thanh que gạt đồng này không?” Cụ Khiêm ôn tồn cất tiếng. “Năm xưa, khi ông cố nội các chắt rời đất đồng chiêm lên bãi bồi Vọng Khê lập nghiệp, trong tay chẳng có lấy nửa thước đất cắm dùi, chỉ có chiếc rìu bổ củi và nghề mộc đóng đấu đong thóc. Cụ tổ từng dạy: cây dâu lớn lên từ bùn đất ven sông Chu, thớ gỗ dẻo dai mà không hút ẩm, ngâm bùn ba năm, hong khói bếp đủ trăm ngày mới đem xẻ ván đóng đấu. Đóng xong cỗ đấu, người thợ lại lấy đồng đỏ đánh thành thanh gạt.”

Cụ Khiêm ngừng lại, ngón tay gầy guộc nổi rõ từng khớp xương khẽ vuốt dọc thân que đồng:

“Chiếc đấu dâu là để gom hạt ngọc của trời, còn thanh que gạt đồng là để giữ lấy cái bằng phẳng của dạ người. Đong cho người hay đong cho mình, hễ đặt thanh đồng xuống là phải gạt một đường dứt khoát, thẳng tắp, không được gạt nghiêng để bòn rút, cũng chẳng được gạt dốc để lừa gạt kẻ dưới. Đong bằng phẳng dạ, gạt phẳng lòng người. Cụ tổ để lại cho họ Lại chúng ta không phải là ruộng sâu bạc vạn, mà chính là cái nếp nhà ngay thẳng, danh thơm cỗ đấu dâu không gợn chút bụi nhơ.”

Nghe đến đó, Hữu Tĩnh nghẹn ngào, hai hốc mắt đỏ hoe. Người cháu chi trưởng quỳ sụp xuống thềm gạch rêu phong, dập đầu thưa:

“Bẩm Cụ cố răn dạy chí phải! Chắt giữ quyền tộc trưởng chi trưởng coi sóc từ đường và kho lúa họ, tính tình lại cả nể, lỏng lẻo việc kiểm tra quy chuẩn đồ đong, để xẩy ra việc đong hụt thóc của quả phụ nghèo hèn giữa mùa giáp hạt. Tội này trước hết là do chắt sơ suất, chắt xin nhận lỗi trước bàn thờ tổ tiên và xin chịu phạt bớt phần thóc giống của gia đình để bù vào kho họ.”

Thấy anh họ quỳ nhận lỗi, Quý Thao càng thêm hoang mang, vội quỳ gối theo, hai vai hơi co lại:

Đăng nhập để thả tim Đăng nhập để tương tác

Ủng hộ tác giả Linh Linh
Mỗi lời động viên là động lực để tác giả tiếp tục sáng tác.

Linh Linh

Tác giả của câu chuyện này · Hãy cùng ủng hộ những chương tiếp theo.

Đăng nhập để theo dõi

Bình luận chương 0

Đăng nhập để tham gia bình luận.

Đang tải bình luận…