Thùng Đấu Gỗ Dâu Soi Thấu Dạ Người
Chương 6: Thước thợ lần vết non
Mùi than củi xộc lên nồng nặc nơi đầu mũi khiến cụ Bá Khiêm khẽ chau mày, nhưng ánh mắt cụ vẫn trầm tĩnh như mặt nước giếng khơi ngày đông giá. Cụ không vội vã cất lời, chỉ lặng lẽ nhìn đứa chút gái nhỏ đang ngáp ngắn ngáp dài bên mép sập. Đôi mắt trong veo của bé An Nhiên đã trĩu nặng vì buồn ngủ, cái đầu nhỏ cứ gục gặc trên ngực áo bông chần.
Cụ Khiêm đón lấy chiếc chăn chèn bông dày dặn từ góc sập, nhẹ tay đắp ngang bụng cho cô bé, kéo lại mép chăn che kín đôi bàn chân nhỏ xíu. Tiếng thở đều đều, thanh thản của đứa trẻ vang lên giữa gian từ đường thanh vắng, hòa cùng tiếng gió bấc rít từng cơn se sắt qua hàng rào dâu da ngoài vườn. Cụ đưa tay vuốt nhẹ lọn tóc mai của con bé, rồi quay sang khẽ gật đầu ra hiệu cho Lại Hữu Tĩnh.
Hai cụ cháu rón rén bước vào gian buồng trong, nơi đặt chiếc bàn mộc gia truyền bằng gỗ lim đen bóng đã lên nước thời gian. Cụ Khiêm đặt mẩu dăm gỗ xuống mặt bàn phẳng phiu, kéo chiếc đĩa đèn dầu lạc lại gần. Ngọn lửa bấc hạt đỗ bập bùng tỏa ra ánh sáng vàng vọt, rọi rõ từng đường vân xơ xác trên mẩu phôi gỗ non.
Cụ Khiêm với lấy chiếc kính lão gọng đồng tròng tròn mắt ốc đeo lên sống mũi, ngón tay gầy guộc miết chầm chậm dọc theo thớ gỗ. Lớp mùn mịn màu nâu nhạt vương lại trên đầu ngón tay ráp ráp. Cụ bấm nhẹ đầu móng tay cái vào cạnh mẩu dăm; thớ gỗ lập tức lún sâu một vết hình trăng khuyết, không hề có độ đanh dẻo, đàn hồi của loại lõi dâu già ngâm bùn sấy khói bếp đủ trăm ngày.
“Hữu Tĩnh, chắt lại đây nhìn cho kỹ,” cụ Khiêm cất giọng trầm trầm, ngón tay trỏ chỉ thẳng vào vệt cháy xém sém đen ở một mép gỗ.
Hữu Tĩnh vội bước tới, cúi thấp người bên cạnh cụ cố, nheo mắt nhìn chăm chú.
“Chắt thấy mép dăm này không?” Cụ Khiêm chậm rãi giải thích, giọng nói mực thước như từng nhịp thước đo gõ nhịp. “Gỗ dâu rừng họ Lại ta ba đời nay truyền lại một phép tắc bất di bất dịch: cây đẵn xuống phải ngâm bùn ao đủ ba năm cho thôi hết chất nhựa chát, sau đó vớt lên phơi sương ba mươi ngày rồi mới đưa lên gác bếp hong khói rơm, khói trấu trọn một mùa đông. Trải qua ngần ấy sương gió lửa khói, thớ gỗ mới dẻo quạnh như sừng, hạt thóc trút vào nghe giòn tan như tiếng khánh đồng, dẫu gặp ngày nồm ẩm hay tiết hanh khô cũng không bao giờ co ngót, nứt nẻ.”
Cụ dừng lại một nhịp, đưa mẩu gỗ lướt qua trên ngọn lửa đèn dầu. Mùi khét hăng nồng lại bốc lên quẩn quanh cánh mũi:
“Còn mẩu phôi này, thớ gỗ xốp và xơ xác như bã mía. Ruột gỗ bên trong còn ứ nước non, nhưng bên ngoài lại khô giòn vì bị vùi trong than củi nóng để ép khô cấp tốc. Kẻ đóng cỗ đấu này chỉ muốn làm cho nhanh, cho kịp, rồi quét lên một lớp dầu trẩu thật dày nhằm che mắt người đời. Lớp dầu bóng bẩy ngoài mặt ấy chỉ là thứ ngụy trang mỏng manh, dùng que đồng gạt nhẹ một lượt là trơ ra chất gỗ non tơ xộc xệch.”
Hữu Tĩnh nghe từng lời của cụ cố, hai mắt mở to, sắc mặt chuyển từ kinh ngạc sang bàng hoàng. Bàn tay chất phác của người cháu chi trưởng nắm chặt lại, giọng run lên vì xúc động:
“Cụ cố... Ý cụ là... cỗ đấu dâu mới của chú Thao không phải do thợ phụ vụng về đường bào, mà là... có người cố ý dùng gỗ non sấy ép để làm đồ giả dối?”
Cụ Khiêm khẽ thở dài, đặt mẩu dăm gỗ trở lại mặt bàn lim:
“Gỗ non ép lửa thì ruột xốp, dễ đục đẽo uốn nắn theo ý muốn. Cái đáy mỏng mà ta soi thấy lúc hoàng hôn chính là được ghép từ loại gỗ này. Chúng nới rộng lòng đáy xuống hai phần bát thóc mà kích thước phủ bì bốn phía vẫn y như cỗ đấu gia truyền, người ngoài nhìn vào chỉ thấy vuông thành sắc cạnh, nào ai ngờ được bên trong lòng thùng lại sâu hoắm như miệng vực.”
Hữu Tĩnh giận đến run người, lồng ngực phập phồng dưới manh áo cộc vá vai:
“Trời đất ơi! Chú Thao là con cháu họ Lại, cùng chung một gốc tổ tông, sao nỡ đang tâm làm cái trò bòn rút từng bát thóc của tá điền nghèo khó giữa mùa giáp hạt này! Chắt... chắt phải sang ngay xưởng mộc ba mặt một lời với chú ấy, lôi cả tộc biểu ra từ đường làm sáng tỏ mọi việc!”

Bình luận chương 0
Đăng nhập để tham gia bình luận.
Đang tải bình luận…